Thứ Sáu, ngày 28 tháng 3 năm 2014

Diễn từ (Tại buổi lễ trao giải thưởng Văn hoá Phan Châu Trinh)


NGÔ ĐỨC THỌ 






                                                    Diễn từ
(Tại buổi lễ trao giải thưởng Văn hoá Phan Châu Trinh)

Kính thưa Bà NGUYỄN THỊ BÌNH

(Nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

Chủ tịch Quỹ văn hoá mang tên nhà cách mạng Phan Châu Trinh,

Các vị trong Ban điều hành và Hội đồng Giải thưởng của Quỹ

Thưa quý đại biểu cùng quý cử toạ,

Hân hạnh được cùng quý vị dự buổi họp mặt hôm nay, ngước lên chân dung nhà chí sĩ yêu nước kiệt xuất, lãnh tụ của phong trào dân chủ nhân quyền Việt Nam, chúng ta tưởng như nhìn thấy ánh mắt như sao của cụ Tây Hồ, bên tai còn nghe vang vọng lời bình của cụ Sào Nam:

“Ông Phan Hy Mã ta ra đời, nghiên cứu cái học của ông Lư (Rousseau), phát huy lời nói của ông Mạnh, đem hai chữ dân quyền hò hét trong nước như một tiếng sấm vang, làm cho bao nhiêu giấc mơ phải tỉnh dậy, mà dân ta từ nay dần dần mới biết mình có quyền...Nay ông đã qua đời rồi mà cái chủ nghĩa của ông ngày thêm  sáng chói...”

(Phan Bội Châu, Bài Tựa Phan Tây Hồ văn tập. Nguyên văn chữ Nho. Ngô Đức Kế dịch. Phan Tây Hồ di thảo. Nhà in Chân Phương 1927.)


Trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần VII

PV (Vietnam+)

Bà Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao tặng giải thưởng cho nhạc sỹ Lư Nhất Vũ (Nguồn ảnh: www.quyphanchautrinh.org)

Thứ Năm, ngày 27 tháng 3 năm 2014

Giáo sư Ngô Đức Thọ và những cống hiến cho khoa học và văn hóa Việt Nam

Giáo sư Ngô Đức Thọ và những cống hiến
cho khoa học và văn hóa Việt Nam 
TS. Trần Trọng Dương
Trong giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam vẫn truyền tụng về các nhà nghiên cứu đầu ngành của thế kỷ XX như Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giáp,… là thế hệ “một đi không trở lại”. Sự ca ngợi ấy cũng là một lối nói, một cách diễn ngôn. Bởi như ta biết, lớp kế cận ngay sau đó là những tên tuổi như Nguyễn Tài Cẩn, Hà Văn Tấn, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Huệ Chi,… Nếu như Nguyễn Tài Cẩn, Hà Văn Tấn, Nguyễn Huệ Chi là những đại thụ, là những người xây nền móng của các ngành ngôn ngữ học, khảo cổ học và văn học trung đại, thì Ngô Đức Thọ là người đi “be bờ đắp đập” cho nhiều chuyên ngành khoa học chuyên sâu khác nhau, từ văn tự học, văn bản học, thư tịch học, cho đến sử liệu học, bi ký học, phiên dịch học…  Ở mỗi một mảng chuyên ngành ấy, Giáo sư Ngô Đức Thọ luôn để lại những công trình quan trọng. Bài viết này, sẽ lần lượt điểm ra những cống hiến của giáo sư ở những bình diện trên. 

1.Về văn tự học
Ở Việt Nam hiện nay hầu như không mấy ai biết đến chuyên ngành văn tự học. Nhìn ở mảng nào cũng thấy những khoảng trống mênh mông. Hàng loạt các văn tự cổ từng tồn tại ở Việt Nam đã và đang chết đi, như chữ Chăm cổ, chữ Thái cổ, chữ Quốc ngữ cổ, chữ Nôm Tày, chữ Nôm Dao, chữ Nôm Việt,… và dĩ nhiên là chữ Hán cổ. Trong bối cảnh đó, công trình “Nghiên cứu chữ Huý trên các văn bản Hán Nôm” của Ngô Đức Thọ (1995) đã đánh dấu sự ra đời của chuyên ngành văn tự học chữ Hán ở Việt Nam. Như lời tựa giới thiệu của giáo sư Hà Văn Tấn: “công trình này đã đặt nền móng cho môn tỵ húy học ở Việt Nam”. Cuốn sách hình thành trên cơ sở luận án tiến sĩ của ông, và là thành quả lao động trong một hai chục năm, trên cơ sở khảo sát hàng vạn văn khắc và thư tịch cổ. Cuốn chuyên luận được in bằng hai thứ tiếng (Việt, Pháp) ngay lập tức đã trở thành giáo khoa thư và sách tham khảo gối đầu giường cho nhiều học giả ở các ngành văn tự học, văn bản học, thư tịch học, sử liệu học… Giới Hán học quốc tế biết đến văn tự học ở Việt Nam chủ yếu vẫn là qua cuốn sách trên. Tiếc rằng, sau gần 20 năm, đây vẫn là cuốn chuyên luận DUY NHẤT về chuyên ngành này. Không biết sau sẽ như thế nào, nhưng nếu như Ngô Đức Thọ là người mở đầu và cũng là người chấm hết cho chuyên ngành văn tự học chữ Hán ở Việt Nam, thì đó là một điều vô cùng đáng tiếc và day dứt!

Thứ Hai, ngày 30 tháng 12 năm 2013

Chúc mừng 2014

Chúc mừng Năm Mới

2014

GIÁP  NGỌ

NGÔ ĐỨC THỌ
Cu Bi Ngô Đức Khuê (sinh 19-11-2013) Tấm hình thứ hai của cháu.
VM-QTG, 20-11-2013. Con gái Ngô Kim Chi và chồng Nguyễn Anh Tuấn được phong học hàm PGS cùng một đợt.







CÂU ĐỐI TIẾN SĨ NGÔ ĐỨC KẾ ĐỀ ĐỀN LÊ TRIỀU TIẾT LIỆT PHU NHÂN PHAN THỊ THUẤN
                                                       
                                                                                                

       

Trung diệc nan hồ hà huống nghĩaPhụ năng như thử, khả tri phu!                                                                         
Dịch::  Trung đã khó thay, huống còn nghĩa ?
Vợ mà như thế biết ông chồng!

*
* *
 Bà NGÔ THỊ HẰNG, chị ruột tôi. Chi sinh năm 1926, cách tôi đúng 1 giáp, 65 tuổi Đảng.Chị qua đời năm 2011,thọ 86 tuổi.


*
*  *

Nhà của gia đình tôi tức ngôi nhà do ông bà cụ Ngô Đức Kế để lại. Từ năm 1956, sau Sửa sai CCRĐ một ngưòi trong họ "mượn" ở nhà. Năm 2008 khu nhà cụ Ngô Đức Kế đã được xếp hạng Di tích Văn Hoá cấp tỉnh, nhưng người ở nhờ vẫn chưa chịu trả lại.Ngôi nhà này năm 1930-31 từng là nơi họp thành lập Chi bộ ĐCSĐD xã Trảo Nha huyện Can Lộc (nay là Thị trấn Nghèn). Sau CMT8 Ủy ban Việt Minh huyện Can Lộc họp Hội nghị lần đàu tiên tại đây. Nhà nguyên có 2 tầng, tầng dưới ở, tầng trên là các bàn thờ gia tiên. Năm 1966 tôi đang học Khoa Văn ĐHTH sơ tán ở Đại Từ Thái Nguyên, trong họ nhắn ra nói địa phương (xã) lo nhà to, dễ làm mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom (??) nên cho người đến phá dỡ tầng trên

Câu đói mừng thọ 80 tuổi cụ Bùi Tùng thân sinh anh Bùi Đức Hạnh:



KHÁNG CHIẾN LƯỠNG KỲ, VI CÁN VI QUÂN,BÙI TỘC TIÊU DANH HỒNG LĨNH THƯỢNG
LÃO KHANG BÁT THẠP,DƯỠNG TÂM DƯỠNG CHÍ, TÙNG ÔNG THỤ PHÚC TRÚC GIANG BIÊN


Tiễn Ths.Nguyễn Đức Toàn sắp bay qua Leipzic với vợ con đang sống bên ấy.
q

                     Mộ bà nội Đạt đã đượcchuyển về khu mới Nghĩa trang thôn Nam Sơn.
ội


Hoa chuối rừng trên đỉnh Thiên Sơn.




Bia tiểu sử Thái bảo Ngô Từ ở huyện Yên Định Thanh Hoá (Hà Tông Huân soạn)

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 12 năm 2013

Hội thảo Thông báo Hán Nôm học 2013


Hà Nội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2712-2013 
HỘI NGHỊ THÔNG BÁO HÁN NÔM HỌC 2013

Q.Viện trưởng VHN Nguyễn Công Việt -Tổng BTập Tạp chi Hán Nôm  -Nguyên VTrưởng VHN Trịnh Khắc Mạnh

PGS.TS Ngô Đức Thọ

PGS.TS Ngô Đức Thọ đọc tóm tắt báo cáo" Phát hiện mới về di văn và di vật của Khai quốc Trạng nguyên Lê Văn Thịnh"


Chủ Nhật, ngày 01 tháng 12 năm 2013

TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT (Bản thử nghiệm, chưa xb)

Giới thiệu bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn (TBHNH 1997)

30/09/2007


GIỚI THIỆU BỘ TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT DO
VIỆN HÁN NÔM BIÊN SOẠN
NGÔ ĐỨC THỌ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1.1. Trong cuộc tiếp xúc văn hóa ngót 2000 năm giữa Việt Nam và Trung Quốc, những thành tựu ngôn ngữ văn tự Hán được người Việt Nam học tập, vận dụng, đã trở thành văn tự chính thức của các triều đại Việt Nam. Đến ngày nay, trong ngôn ngữ nói cũng như trong các văn kiện chính trị ngoại giao, văn hóa, khoa học, thông tin đại chúng v.v..., các từ Hán - Việt vẫn còn được sử dụng với một tỷ lệ khá cao (ước từ 60-80%). Có thể nói tiếng Hán - Việt là một bộ phận quan trọng nhất trong di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam.
1.2. Do áp lực của chủa nghĩa thực dân Pháp, loại chữ viết dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt trước chỉ được dùng trong một phạm vi rất hẹp (chủ yếu là tài liệu của các nhà truyền giáo phương Tây), đến đầu thế kỷ XX trở thành thông dụng, được chính thức coi là chữ Quốc ngữ của Việt Nam. Đây là một tình trạng khác hẳn với các nước trong khu vực dùng chữ Hán như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, - những nước này, trong tiến trình giao lưu văn hóa khoa học với thế giới vẫn bảo lưu hệ văn tự truyền thống của mình.
Sự thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ Latin hóa ở Việt Nam tuy cũng có những tiện lợi, nhưng đồng thời nó cũng gây nên một sự hụt hẫng rất quan trọng, khiến cho người Việt thuộc thế hệ chữ Quốc ngữ hầu như bị tách rời với bề dày di sản văn hóa thành văn chủ yếu được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Để hiểu biết lịch sử, văn hóa, văn học, tư tưởng, học thuật của dân tộc, suốt mấy chục năm qua đã có vài thế hệ các học giả có tâm huyết tự nguyện làm công việc dịch lại các tác phẩm của tiền nhân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay cũng đang thực hiện nhiệm vụ đó với hy vọng đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu di sản văn hóa dân tộc, không những cho đại chúng mà cả các nhà nghiên cứu không có chuyên môn về Hán văn cổ Việt Nam.
1.3. Công việc lớn lao gìn giữ, nghiên cứu khai thác các di sản Hán Nôm đó, từ lâu, giới trí thức và những người am hiểu các vấn đề văn hóa của các nước nhà đều cho là phải có sự hiểu biết tinh thông, hoặc đủ mức tạm gọi là chuyên sâu về Hán ngữ và Hán văn cổ Việt Nam mới có thể thực hiện được. Ngược lại, nếu hiểu biết về vốn từ Hán Việt ngày một sơ sài, âm nghĩa, điển cố thiếu chính xác thì di sản quý giá đó khó tránh khỏi tàn lụi trong lớp bụi của thời gian.
2.1. Do tầm quan trọng của vấn đề như vậy, Viện Nghiên cứu Hán Nôm ngay từ cuối những năm 80 đã nhận thấy sự cần thiết phải biên soạn một bộ Từ điển Hán Việt có quy mô tương đối lớn lớn, cố gắng tối đa để phản ánh cho được những tri thức và thành tựu mà giới ngữ văn Hán Nôm học Việt Nam đã từng bước đạt được cho đến nay. Kế hoạch biên soạn Từ điển Hán Việt của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã được lãnh đạo UBKHXH VN (nay là Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) chấp thuận, và từ tháng 7-1991 bắt đầu cấp kinh phí cho thực hiện.
2.2. Để thực hiện kế hoạch đó, Viện đã tổ chức một Ban Biên tập gồm 10 ủy viên biên tập có trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy lâu năm; và một Ban sưu tập cứ liệu gồm 18 nghiên cứu viên của Viện.
2.2.1. Do mục tiêu khoa học của đề tài, nhóm công trình xác định bộ Từ điển Hán Việt biên soạn lầnnày cần phải đạt được sự chính xác khoa học trong việc xác định hình, âm, nghĩa của mỗi từ/ chữ Hán Việt.
- Về âm: Ban biên soạn phải sử dụng các sách vận thư tự điển cổ của Trung Quốc như:Đường vận 唐 韻, Quảng vận 廣 韻, Tập vận 集 韻, Vận hội 韻 會, Chính vận 正 韻 v.v.. để xác định chính xác âm đọc. Nguyên tắc phiên âm: một mặt bảo đảm giữ âm truyền thống của những từ thông dụng, một mặt bảo đảm khôi phục âm đọc Hán Việt thời Đường Tống theo nguyên tắc phiên thiết. Những từ có đến 2-3-4 cách đọc (gắn với những nghĩa khác nhau) đều được ghi vào từ điển.
- Về nghĩa: (a) Các từ đơn: Ban biên soạn tham khảo nhiều từ điển của Trung Quốc nhưKhanh Hy, Từ nguyên, Từ hải v.v…, lựa chọn những nghĩa quan trọng mà về sắc thái ngữ nghĩa người Việt Nam có thể phân biệt được. Có từ Trung Quốc chia làm 5-6 ý nghĩa nhưng chỉ thích hợp với người Việt 3-4 nghĩa thì chỉ lấy những nghĩa đó. Ở mỗi nghĩa, người soạn lựa chọn những câu trích dẫn thích hợp nhất với ý nghĩa đã nêu. Ban biên soạn đặc biệt coi trọng chọn lựa những cứ liệu trong các sách kinh điển của Trung Quốc (Ngũ kinh, Tứ thư v.v…) và tác phẩm nổi tiếng khác của Lão Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử, Tuân Tử v.v… Đó là cơ sở quan trọng để giúp người dùng từ điển hiểu chính xác các từ ngữ đã được dùng trong các thư tịch cổ Trung Quốc. (b) Các từ ghép (2-3 âm tiết) cũng theo các xử lý như đối với từ đơn, nhưng chú ý lựa chọn những từ ghép quan trọng nhất, tạm thời chưa lấy những từ ghép quá ít khả năng sử dụng, - nghĩa là có khả năng cực hiếm khi xuất hiện trên văn bản. Các cứ liệu từ ghép Hán Việt Nam cũng được dựa vào như đã nói, - nếu những cứ liệu đó rõ ràng và nổi tiếng hơn thì người biên soạn sẽ sử dụng để thay thế hẳn cứ liệu của Trung Quốc. Từ điển chú ý chủ yếu đến các từ ghép cổ, khó hoặc tương đối khó hiểu, còn đối với những từ ghép Hán Việt đã trở nên thông dụng như Hành chính, Nhân dân, v.v… thì coi là đối tượng của từ điển tiếng Việt hiện đại, không đưa vào từ điển này.
2.2.2. Để bộ từ điển phản ánh được các cứ liệu Hán văn Việt Nam, ngay từ khi triển khai dự án. Ban cứ liệu đã thực hiện việc rút phiếu trích dẫn các từ Hán đã được các tác gia Việt Nam sử dụng. Mỗi trích dẫn đều chép đủ nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa, ở cuối phiếu ghi xuất xứ tên sách, tên bia, số quyển, tập, trang v.v… Việc này thực ra không có gì đáng gọi là mới lạ đối với các nhà làm từ điển, nhưng đối với việc rút cứ liệu trên các tác phẩm Hán văn Việt Nam thì đây là lần đầu tiên được Viện Hán Nôm thực hiện để đưa vào Từ điển Hán Việt một danh sách gồm 500 đơn vị thư tịch và 300 văn bia phần lớn là các tác phẩm nổi tiếng, đã được lựa chọn để lấy cứ liệu: từ Thiên uyển tập anh, Việt điện u linh, Khóa hư lục, Tam tổ thực lục, Việt sử lược v.v.. (đời Lý Trần); Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo, Đại Việt sử ký toàn thư, Thơ văn Lê Thánh Tông (đời Lê). Ô Châu cận lục, Truyền kỳ mạn lục (đời Mạc), Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục (đời Lê Trung hưng), Đại Việt sử ký tiền biên (đời Tây Sơn), Hoàng Việt nhất thống địa dư chí, Nghệ An ký, Đại Nam thực lục Tiền biên. Chính biên, Khâm dịch Việt sử thông giám cương mục (đời Nguyễn) v.v… Như vậy, bên cạnh các tác phẩm của Trung Quốc, Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn có tương đối nhiều cứ liệu Hán văn Việt Nam trích dẫn từ tác phẩm của Trần Thái Tôn, Tuệ Trung thượng sĩ, Hồ Nguyễn Trừng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Dương Văn An, Nguyễn Dữ, Lê Quý Đôn, Lê Quang Định, Bùi Dương Lịch và các sách của Sử quán triều Nguyễn v.v… Đây chính là phần đặc sắc nhất của bộ Từ điển Hán Việt được biên soạn lần này, do đó nó được đặt thêm tiều đề phụ: “Lần đầu tiên sử dụng cứ liệu Hán văn Việt Nam”.
2.2.3. Về các sắp xếp các mục từ: hiện nay trong giai đoạn sơ thảo, để tiện làm việc, chúng tôi tạm sắp xếp theo thứ tự các bộ thủ như trong các từ điển của Trung Quốc. Nhưng ở giai đoạn làm bản thảo hoàn chỉnh để xuất bản có thể Ban biên tập sẽ tính đến phương án xếp theo thứ tự ABC của tiếng Việt. Nhưng dù chính văn sắp xếp theo cách nào thì ở cuối sách cũng có bảng kê bổ trợ để người dùng có thể tra cứu theo yêu cầu của mình.
3.1. Sau hơn 5 năm làm việc, đến nay nhóm công trình đã soạn xong bản sơ thảo gồm:
* 12.500 mục từ (chữ) đơn.
* 165.00 mục từ ghép.
* 215.000 cứ liệu có xuất xứ trong các thư tịch, bi ký Hán văn Việt Nam; lựa chọn được 85.000 dẫn liệu đưa vào các mục từ.
* Số trang bản thảo: khoảng 6.000 trang in vi tính khổ giấy A4 với cỡ chữ 10.
3.2. Với bản sơ thảo vừa hoàn thành, chúng ta đã có trong tay một bản thảo TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT có quy mô lớn nhất từ trước đến nay và là lần đầu tiên đó là một từ điển có trích dẫn văn liệu Hán văn cổ của Trung Quốc và Việt Nam để chứng minh từ nghĩa. Căn cứ vào kết quả đã đạt được, ngày 16-9-1997 vừa qua Hội đồng nghiệm thu đề tài cấp bộ do GS Đinh Gia Khánh làm chủ tịch đã đánh giá cao công phu của tập thể biên soạn, khẳng định bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm chủ trì thực hiện là một bộ sách công cụ có quy mô và chất lượng đáp ứng yêu cầu khoa học của chuyên ngành, có ý nghĩa lớn và đáp ứng được yêu cầu tra cứu, học tập Hán văn của đông đảo người đọc, của chuyên gia các ngành, đặc biệt là các chuyên gia trẻ có yêu cầu và trách nhiệm khai thác nghiên cứu di sản Hán Nôm.
3.3.3. Biên soạn một công trình lớn như Từ điển Hán Việt thông thường là phải thực hiện qua nhiều giai đoạn, hoàn thiện dần từng bước, lại phải có sự tiếp tay của nhiều nhà khoa học, qua nhiều thế hệ, qua nhiều lần xuất bản. Bản sơ thảo tuy đã hoàn thành, nhưng để có thể xuất bản được trong vài năm tới, công trình này cần được chỉnh lý, biên soạn, biên tập hoàn chỉnh, nhiều công việc còn cần được thực hiện bổ sung – Như thu thập thêm thích đáng các từ ghép về nhân danh, địa danh; các điển cố, danh vật v.v… nói chung cần phải bổ sung thêm nhiều. Các cứ liệu Hán văn Việt Nam trích xuất trong thư tịch bi ký là bộ phận rất đáng quý và có ý nghĩa, được coi là một đặc sắc của từ điển này, vẫn cần được bổ sung, - nhất là các cứ liệu trong bia, chuông cổ thì nhìn chung còn ít. Chính vì vậy, Hội đồng nghiệm thu công trình đã đề nghị Lãnh đạo Trung tâm KHXH&NVQG cấp kinh phí bổ sung, chỉnh lý sơ thảo, để bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn sớm được xuất bản để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
4. Thế kỷ XXI đang tới gần, đất nước ta đang tiến đến những thời cơ mới, vận hội mới. Nhiệm vụ giữ gìn phát huy nền văn hiến lâu đời của dân tộc trông đợi ở những người có tâm huyết, hy vọng ở các chuyên gia trẻ sẽ đóng góp tài năng cho chuyên ngành khoa học nghiên cứu di sản Hán Nôm. Cho dù còn không ít vấn đề cần suy nghĩ để hoàn thiện công trình, nhưng vớiBản sơ thảo khá đồ sộ đã có trong tay, nếu được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức trong việc cung cấp điều kiện vật chất, kinh phí cần thiết, chúng ta có thể hy vọng bộ từ điển do Viện Hán Nôm biên soạn sẽ sớm được xuất bản xứng đáng với cái tên Hán Việt đại từ điển mà Ban biên soạn đã đề nghị được đặt tên cho nó.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.603-609)



TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT
Đồng Chủ biên: NGÔ ĐỨC THỌ





Thứ Tư, ngày 06 tháng 11 năm 2013

Nếu không thay đổi thì Việt Nam không có tương lai

TS Nguyễn Sĩ Dũng (phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội):
Nếu không thay đổi thì Việt Nam không có tương lai !

Đổi mới là mệnh lệnh của thời đại

(phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội)
 04/11/2013 09:10 (GMT + 7) TT - “Tại kỳ họp lần này, Quốc hội tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua việc sửa đổi Hiến pháp, đây là cơ hội lịch sử để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đ
VÕ VĂN THÀNH thực hiện


đáp ứng được yêu cầu của thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển”. TS Nguyễn Sĩ Dũng (phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) nói trong cuộc trò chuyện với uổi Trẻ. * “Nếu không đổi mới, chắc chắn VN sẽ khó khăn, tôi nghĩ Quốc hội cũng cảm nhận được điều này”. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh đã phát biểu như vậy tại Quốc hội. Cá nhân ông cảm nhận ra sao? "Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai" TS NGUYỄN SĨ DŨNG - Cá nhân tôi cảm nhận là Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã nói rất thẳng thắn và rất đúng đắn. Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai. Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã rất khác. Tôi có cảm giác là hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta. Sự khó khăn mà Bộ trưởng Vinh phát biểu tại Quốc hội có thể đến không chỉ từ việc phải cạnh tranh toàn diện với các quốc gia khác, mà còn từ những mong đợi và những đòi hỏi lớn hơn của những người dân đã hiểu biết và trưởng thành vượt bậc. * Vậy thì đổi mới tiếp theo nên bắt đầu từ đâu, theo ông? - Mọi chuyện đều nên bắt đầu từ chính cái đầu của chúng ta. Không có sự cầm tù nào thê thảm và tàn hại bằng sự cầm tù tư duy của con người. Đổi mới tư duy chính vì vậy phải là bước đầu tiên, cũng là bước tiếp theo cho mọi sự đổi mới mà chúng ta tiến hành. Đây rõ ràng không phải là điều gì quá mới mẻ. Điều này đã được Đảng ta nói tới hàng chục năm nay. Vấn đề là thiếu những kiến thức mới, những khái niệm mới..., thật khó lòng đổi mới được tư duy. Quả thật, làm sao có thể đổi mới tư duy bằng cách xào nấu lại các giáo điều xưa cũ?! Khi đã có tư duy mới, cái cần phải đổi mới trước tiên có lẽ là nền quản trị quốc gia. Thế giới đã chứng minh rằng không phải tài nguyên, vị trí địa lý hay thời tiết mà thể chế do con người xây dựng là nguyên nhân căn bản của sự thành công hay thất bại về kinh tế, cũng như về phát triển nói chung. Nhân đây, câu chuyện thành công của đội bóng U-19 gợi cho chúng ta điều gì? Phải chăng là nếu tổ chức được mô hình theo chuẩn quốc tế thì “thấp bé nhẹ cân” như các cầu thủ VN vẫn có hi vọng, và ngược lại? Tại kỳ họp lần này, Quốc hội tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua việc sửa đổi Hiến pháp, đây là cơ hội lịch sử để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đáp ứng được yêu cầu của thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển. * Ông hình dung nền quản trị quốc gia “đáp ứng được yêu cầu thời đại” như thế nào? - Tôi hình dung nền quản trị quốc gia hiện đại phải đáp ứng mấy yêu cầu sau: 1- Bảo đảm pháp quyền. 2- Bảo đảm trách nhiệm giải trình. 3- Bảo đảm sự minh bạch. 4- Bảo đảm sự tham gia và sự dự phần của mọi người dân. Tất nhiên, những điều nói trên hoàn toàn không phải là sáng kiến của cá nhân tôi. Đó là sự tổng kết của Liên Hiệp Quốc từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy, đòi hỏi đầu tiên đối với việc đổi mới nền quản trị quốc gia là phải xác lập cho bằng được pháp quyền (cách mà chúng ta hay gọi hơn là xây dựng nhà nước pháp quyền). Đây là một vấn đề mang tính kỹ trị. Ý chí chính trị phải kết hợp với kiến thức và sự hiểu biết mới giúp chúng ta xây dựng được pháp quyền. * Ông có đề xuất mô hình cụ thể nào không? - Khoảng một vài tuần trước khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời, bác Kiệt có gọi tôi lên trò chuyện, và tôi đã trình bày một số suy nghĩ của mình. Lúc bấy giờ tôi có nói rằng cần phải hết sức tránh việc hình thành hai nhà nước trong một đất nước. Chúng ta có thể nghiên cứu nhất thể hóa sâu rộng hơn, tương tự như Singapore chẳng hạn, để Đảng lãnh đạo thật sự “hóa thân” vào Nhà nước. Làm được điều này, chúng ta không chỉ tránh được rủi ro của những xung đột không đáng có giữa Đảng và Nhà nước, mà còn xác lập được chế độ trách nhiệm giải trình hữu hiệu, bảo đảm được quy trình ban hành quyết định minh bạch, rõ ràng và đỡ tốn kém thời gian, công sức hơn. Tôi cho rằng hiện nay đây là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất để đổi mới nền quản trị quốc gia của chúng ta. Thật ra, nhất thể hóa cũng là chủ trương đã được Đảng ta đề ra, chứ không phải là điều gì mới mẻ cả. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất lớn. Nhiều khía cạnh của vấn đề lại không thể chỉ giải quyết bằng mỗi một việc là sửa đổi Hiến pháp. Tất nhiên, có những vấn đề cơ bản khác nếu không được thiết kế trong Hiến pháp thì rất khó mở đường cho việc đổi mới tiếp theo nền quản trị quốc gia. * Văn kiện Đại hội XI có nói đến việc “tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận”. Vấn đề nêu trên chạm đến những lý luận rất lớn và sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, ông nghĩ tính khả thi đề xuất của mình đến đâu? - Người Anh có câu ngạn ngữ: “Bạn không bao giờ biết bạn có thể làm được điều gì, trước khi bạn thử làm điều đó”. Tôi nghĩ rằng người Anh không phải là không có lý. VÕ VĂN THÀNH thực hiện Bộ trưởng BÙI QUANG VINH - Ảnh: V.DŨNG “Năm 2016-2020 nếu VN không đổi mới chắc chắn VN sẽ khó khăn, tôi nghĩ Quốc hội cũng cảm nhận được điều này... Tôi tin tưởng đất nước VN sẽ phát triển với những con người thông minh và có học hành, chắc chắn VN sẽ không thua kém các nước như Hàn Quốc và Nhật. Tất nhiên ở nhiều góc độ nhìn khác nhau thì chúng ta thấy vấn đề khác nhau. Nhưng có thể nói trên bình diện thống kê, phân tích chi tiết thì chúng tôi thấy ta đang có bước phục hồi mặc dù phục hồi còn ít và chưa thật sự bền vững. Đó là những tín hiệu tốt, chúng tôi nghĩ rằng lúc này niềm tin là điều quan trọng và chúng ta cần phải xây dựng niềm tin để chúng ta vươn tới”. (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh phát biểu trong phiên thảo luận của Quốc hội về kinh tế - xã hội sáng 1-11) Quốc hội thảo luận về Hiến pháp và Luật đất đai Trong tuần làm việc thứ ba của kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội dành hai ngày để thảo luận tại hội trường về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (ngày 5-11), về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật đất đai sửa đổi (6-11). Hai nội dung này được truyền hình và phát thanh trực tiếp. Chương trình nghị sự của Quốc hội trong tuần còn gồm các nội dung quan trọng khác như thảo luận về dự thảo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi); công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm; công tác phòng chống tham nhũng năm 2013; việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012; việc sửa đổi, bổ sung nghị quyết số 38/2004/QH11 ngày 3-12-2004 của Quốc hội về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh. Trong tuần, Quốc hội cũng sẽ nghe một số tờ trình về dự án Luật xây dựng (sửa đổi); dự án Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi); dự án Luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế. MAI HƯƠNG ------------------------------------ Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/578150/doi-moi-la%CC%80-me%CC%A3nh-le%CC%A3nh-cu%CC%89a-tho%CC%80i-da%CC%A3i.html