Thứ Tư, ngày 05 tháng 8 năm 2015

Tư liệu về NGUYỄN DU & TRUYỆN KIỀU



嗣德元年一陽月中浣新  
Tự Đức nguyên niên Nhất dương nguyệt trung cán tân thuyên /Khắc in lần đầu Thượng tuần tháng Nhất Dương [tức tháng] năm Tự Đức thứ nhất (1848) 


KIM VÂN KIỀU ÁN 金雲翹案 
Thanh Hoá Tham hiệp NGUYỄN VĂN THẮNG 阮文soạn


KIM VÂN KIỀU ÁN 金雲翹案.

Nguyễn Văn Thắng阮文勝
KIM VÂN KIỀU ÁN 金雲翹案.Kđ., Tự Đức nguyên niên [1848]
Sách chữ Nôm, in ván gỗ.   24 tr.   20 x 13 cm.  TVQG: R.1856











 
Nguyễn Văn Thắng người Phường Yên Thái tức là Bưởi, Hà Nội, đỗ Cử nhân khoa thi Hương đầu tiên triều Minh Mệnh, đỗ Tiến sĩ khoa thi Hội thứ 2 triều Minh Mệnh(1826)



















Nguyễn Văn Thắng (1803-?) người phường Yên Thái huyện Vĩnh Thuận phủ Phụng Thiên Bắc Thành- Nay thuộc phường Bưởi quận Tây Hồ
Hà Nội, đỗ  khoa Minh Mệnh 7 (1826). Trước được bổ chức Tham hiệp Thanh Hoa (tức Thanh Hoá), sau đổi làm Tham hiệp Nam Định. Tháng 3năm Minh Mệnh 12 (4-1831) phạm tội trong vụ thu mua gỗ lim, bị kết án rất nặng. Ngồi trong ngục buồn rầu, Nguyễn Văn Thắng thường ngâm ngợi Truyện Kiều cho khuây khoả, lại đem các nhân vật trong truyện Kiều làm đề tài bình luận, mỗi nhân vật làm thành cả một bài phú quốc âm (Nôm), gọi là “án” (bình luận, đánh giá). Tập “án” Kim Vân Kiều của ông về sau được phường sách in ra để lưu hành. Đây là một trong những tác phẩm bình luận truyện Kiều xuất hiện rất sớm . 
 Lời Tựa:
Đạo của ta vận hành trong chốn trời đất bàng bạc, dẫu ở chỗ góc biển chân rừng, dân người lạo người man cũng đều được giáo hoá. Cho nên phàm những điều trăm nhà viết ra, cho đến những lời tạp ngữ truyền tình, chuyện cười mua vui [ cổ nhân cũng đều] không tiếc bút mực mà ghi chép lại cả, có lẽ là để cho ai khi có thời giờ rỗi rãi, không kiêng tránh

 “Tôi sinh không gặp thời, học hành thiếu sót, thường nghe truyện Kim Vân Kiều chép bằng tiếng Trung Quốc (Bạch thoại), nguyên xưa do nhà Ngũ Văn lâu ở Bắc triều đã đem nguyên bản khắc in truyền mãi đến nay. Cho đến khi quan Đông các nước ta (tức  Nguyễn Du) đem diễn thành quốc âm thì truyện ấy được phổ biến khắp nơi, chỉ nghe lời kể mà như được thấy mặt. Không chỉ các văn nhân tài tử mắt đọc mà tâm tình biến động, thần thái nhẹ  nhàng, đến kẻ ngu phu bỉ phụ miệng ngâm tay huơ chân múa!  Tôi trong buổi ấy còn đang long đong, rày đây mai đó, phiêu bạt khắp chốn giang hồ, chân chưa dừng bước, cánh bèo trôi dạt chưa bén rễ nơi nào, sống qua ngày tháng chẳng phải ưu tư. Mùa đông năm Canh Dần (1830) vì bị giam ở ngục, trọn ngày ngồi suông, không có gì để tả nỗi lòng, cho nên thường đọc truyện Kim Vân Kiều bằng quốc âm. Thật may mắn được biết những ngôn từ ấy. Nhưng nghĩ kỹ thấy trong 1.575 câu ấy, đầu cuối tiếp nhau, tả cảnh tả tình công phu tinh diệu, tiếc cho dẫu là thơ phú của Bằng quận công, Long Lĩnh hầu cũng khó có được vẻ đẹp như thế. Còn như hạng bọn tôi đâu dám tầm chương trích cú mà bày chuyện ra đâu! Tuy nhiên xét các nhân vật trong truyện, có người thì tài đáng yêu, nghĩa đáng khen mà đức hạnh thì có điều đáng tiếc. Có người thi tình đáng thương mà tính đáng răn, ác đáng ghét. Nhưng pháp luật không vì tình riêng,tội ác lẽ nào có thể dung tha mà luận bàn chung chung đươc! Lời nghị án cũ 500 năm sau án tình vẫn chưa có văn án rõ ràng thoả đáng! Nay tôi theo bản “Quốc triều luật lệ” xét đoán cho thấu chân tình, để không lưu lại sự ngưng trệ cho nghìn năm sau. Vì lẽ đó, tôi không ngại quê mùa mà trình một tiếng cười vậy !”
Đem luật lệ triều Nguyễn ra mà bình luận nhân vật truyện Kiều thì quả là khắt khe quá đáng! Nhưng nói đến các sáng tác lấy cảm hứng từ truyện Kiều thì tác phẩm này của ông Nghè làng Bưởi Nguyễn Văn Thắng, nhờ  văn từ và cảm thụ văn học tinh tế, vẫn được người yêu thích truyện Kiều nhắc nhở đến. Trích mấy đoạn sau đây:
-Bản án Thuý Kiều:
Hiếu tình có một, tài sắc gồm hai,
Hoa ghen thắm, liễu hờn xanh,
Ngọc trắng gương trong nền quốc sắc.
Cá mê vần, chim đắm khúc, non cao nước chảy bậc cung thương.
Giá thuyền quyên đã đáng đúc nhà vàng, sức tài nữ cũng nên trao thước ngọc.   ....
Tranh thuỷ mặc bốn câu ba vần,
Khách chung tình rút ruột động niềm tư,
Thơ  đoạn trường một vẫy mười  bài,
Bạn tri kỷ giật mình nhường giải nhất.
Kiếp má phấn đến khi rơi phận bạc,
Tấm lòng son không chút thẹn vừng hồng
Lỗ thịt xương thề giả đức sinh thành,
Nhắm mát chừ chân theo máy tạo.
Phút đâu ba cảm ăn lời ước hẹn,
Trao tơ đem chỉ cậy tay em.
Phận bèo mây sá quản áng phong trần,
Phùng trăng gió chẳng phai lòng sắt đá.
Lời thần mọng gấm đeo phô chưa hết,
Cõi Lâm Tri dừng ngọc nét vàng tan.
Biếng thư hương

Thứ Năm, ngày 30 tháng 7 năm 2015

Nhân kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại thi hào NGUYỄN DU (1765-2015)Bộ tranh tứ bình vẽ tích TRUYỆN KIỀU



(1) Phùng cố hữu, xuân nhật đàm đạo
      Ngộ tri âm, thư viện cổ cầm
            Gặp lại bạn cũ, ngày xuân đàm đạo
            Hội  ngộ  tri âm, đến thư viện gảy đàn.
(2) Hồi Lâm Tri, vong thân vị hiếu
      Quan Âm các, quá bộ khán kinh.
            Về Lâm Tri, Kiều bán mình vì hiếu
            Ra  gác Quan Âm, Hoạn  Thư "quá bộ xem kinh"! 
(3)  Việc thanh  lâu,Từ Hải lai tế
        Tiền quân sĩ, Thuý Kiều báo oán.
            Việc thanh lâu, Từ Hải đến làm rể,
            Trước quân sĩ, Thuý Kiều báo oán.
(4)   Phụng chỉ huynh đệ đồng phó nhậm,
        Tái hồi phu phụ, đại đoàn viên.

            Vâng mệnh vua, anh em cùng đi nhậm chức
            Chồng vợ lại về,sum họp đại đoàn viên.

 Khoảng tháng 5-/1959 sau ngày đổi tiền NH (1959) tôi đi chơi phố Hàng Đào, qua khoảng số nhà 8 hay 10 (bên trái), thấy một nhà không bày hàng hoá, thay vào đó, nguyên một gian phiá ngoài trình bày đẹp như một phòng triển lãm, bên trong đặt 1 cái đôn sứ, trên đặt 1 bình hoa nhỏ. Bên trong, sát với đôn sứ là một bức bình phong gỗ quý, trên mỗi cánh của bình phong căng một bức lụa vẽ tranh màu theo phong cách cổ hoạ về đề tài Truyện Kiều. Khi ấy tôi chỉ xem qua cho biết chứ chưa nói đến chuyện thưởng thức nghệ thuật của tác phẩm cổ hoạ ấy, chỉ có chú ý thấy miếng giấy nhỏ đề giá bán là 1.800 đồng NH vừa đổi. 1.800 đ NH so với mức qquy  định đổi tiền tối đa là 2.000 đ -đó cũng là tiêu chuẩn để quy một người có số tiền đó là thành phần tư sản (phải thực hiện công tư hợp doanh). Giá bức tranh như vậy là cả một gia tài lớn! Từ đầu chí cuối tôi tuyệt không có ý niệm gì về việc "mua" bức tranh ấy. Nhưng cái giá 1.800 đ NH thì thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ để biết hồi ây người ta bán một bức tranh như thế nào?  Thời gian trôi qua, thỉnh thoảng tôi cũng đi xem  các triển lãm hoặc phòng trưng bày các tranh minh hoạ truyện Kiều, có chú ý, nhưng không thấy cuộc nào trưng bày bộ tứ bình Truyện Kiều mà tôi đã thấy. Ngẫu nhiên, khi đọc mọt tạp chí của VĐBC tại Hà Nội tôi đã "gặp" lại bộ tứ bình ấy. Nói "gặp" là gặp bức ảnh chụp chứ không phải được thấy bản  gốc của bộ tranh! Tôi bèn chụp lại ảnh bô tranh quý ấy để thỉnh thoảng mở xem cho vui, nhất là khoảng 2005 tôi nghiền ngẫm Truyện Kiều bản Duy Minh Thị thì ngắm ngiá  bức tứ bình ấy lại càng rất ý vị.
Bộ tranh ấy, ờ bức số (1)gần sát cạnh đáy có dòng chữ mực đỏ đề: 26/7/56; có thể đó là ngày tác giả vẽ xong  bức tranh; còn  các số tiếp theo: 18x24 và 5.123có lẽ là cỡ ảnh chụp và số KH của VĐBC. Tiếp đó là chữ ký và có thề có ghi cả tên của hoạ sĩ (Nhưng đáng tiếc chi tiết chữ ký đó đã bị xoá, chỉ thấy vết mầu hồng mờ mờ thôi). Nay nhân kỷ niệm 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du, mọi người nhắc đến Truyện Kiều nhiều, cả  các tranh  bìa, minh hoạ Truyện Kiều cũng được nhiều người kể đến, tôi nhân  đó post ảnh bộ  tứ bình này lên đây để mọi người cùng xem. May ra, nếu tác giả còn tại thế (hoặc người nhà) có thể nhận ra tác phẩm của mình. Còn về của hiệu ở đầu phố Hàng Đào mà ngày trước tôi đi qua thì góc trên của bức số (3)  có đề: Hà Nội, Thanh An hiệu, có lẽ đó là tên cửa hiệu đã trưng bày bộ tứ bình này màg tôi đã nói ở trên. Ngô Đức Thọ stầm & gthiệu.   

      

Thứ Ba, ngày 28 tháng 7 năm 2015

Xác định thời điểm sáng tác TRUYỆN KIỀU.

Kỷ niệm 20 năm năm sinh Đại thi hào NGUYỄN DU (1765- 2015)



Đền thờ NGUYỄN DU Ở TIÊN ĐIỀN
(Bảo tàng NGUYỄN DU - Nghi Xuân-Hà Tĩnh)

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 11 năm 2014

KHỞI CÔNG TRÙNG TU ĐỀN LINH NHA

Sáng nay 29-11-2014 tại núi Nghèn thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, Huyện uỷ, UBND Huyện Can Lộc và UBND Thị trấn Nghèn đã khởi công trùng tu phục dựng Đền Linh Nha. Đền này đựoc dựng năm 1626, đầu thời kỳ KC chóng Pháp đền bị phá huỷ. Nay thể theo nguyện vọng của nhân dân địa phương, Huyện uỷ - UBND Huyện Can Lộc chủ trương phục dựng Đền Linh Nha như đã có trong lịch sử. UBND Thị trấn Nghèn được uỷ thác làm đại diện Ban Quản lý công trình.


Thứ Hai, ngày 25 tháng 8 năm 2014

Triễn lãm " ĐÁY SÓNG" Phòng tranh của hoạ sĩ TRANG THANH HIỀN

25-8-2014: Chúc mừng Họa sĩ TRANG THANH HIỀN khai mạc thành công Phòng tranh
ĐÁY SÓNG



TRANG THANH HIỀN -Hoạ sĩ tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, TS.Văn hoá học


Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Ngô Đức Thọ và Tiến sĩ Nguydễn Xuân Diện phu quân của Trang Thanh Hiền

Ngô Đức Thọ và GS Trần Đình Sử