Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT (Bản thử nghiệm, chưa xb)

Giới thiệu bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn (TBHNH 1997)

30/09/2007


GIỚI THIỆU BỘ TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT DO
VIỆN HÁN NÔM BIÊN SOẠN
NGÔ ĐỨC THỌ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1.1. Trong cuộc tiếp xúc văn hóa ngót 2000 năm giữa Việt Nam và Trung Quốc, những thành tựu ngôn ngữ văn tự Hán được người Việt Nam học tập, vận dụng, đã trở thành văn tự chính thức của các triều đại Việt Nam. Đến ngày nay, trong ngôn ngữ nói cũng như trong các văn kiện chính trị ngoại giao, văn hóa, khoa học, thông tin đại chúng v.v..., các từ Hán - Việt vẫn còn được sử dụng với một tỷ lệ khá cao (ước từ 60-80%). Có thể nói tiếng Hán - Việt là một bộ phận quan trọng nhất trong di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam.
1.2. Do áp lực của chủa nghĩa thực dân Pháp, loại chữ viết dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt trước chỉ được dùng trong một phạm vi rất hẹp (chủ yếu là tài liệu của các nhà truyền giáo phương Tây), đến đầu thế kỷ XX trở thành thông dụng, được chính thức coi là chữ Quốc ngữ của Việt Nam. Đây là một tình trạng khác hẳn với các nước trong khu vực dùng chữ Hán như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, - những nước này, trong tiến trình giao lưu văn hóa khoa học với thế giới vẫn bảo lưu hệ văn tự truyền thống của mình.
Sự thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ Latin hóa ở Việt Nam tuy cũng có những tiện lợi, nhưng đồng thời nó cũng gây nên một sự hụt hẫng rất quan trọng, khiến cho người Việt thuộc thế hệ chữ Quốc ngữ hầu như bị tách rời với bề dày di sản văn hóa thành văn chủ yếu được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Để hiểu biết lịch sử, văn hóa, văn học, tư tưởng, học thuật của dân tộc, suốt mấy chục năm qua đã có vài thế hệ các học giả có tâm huyết tự nguyện làm công việc dịch lại các tác phẩm của tiền nhân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay cũng đang thực hiện nhiệm vụ đó với hy vọng đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu di sản văn hóa dân tộc, không những cho đại chúng mà cả các nhà nghiên cứu không có chuyên môn về Hán văn cổ Việt Nam.
1.3. Công việc lớn lao gìn giữ, nghiên cứu khai thác các di sản Hán Nôm đó, từ lâu, giới trí thức và những người am hiểu các vấn đề văn hóa của các nước nhà đều cho là phải có sự hiểu biết tinh thông, hoặc đủ mức tạm gọi là chuyên sâu về Hán ngữ và Hán văn cổ Việt Nam mới có thể thực hiện được. Ngược lại, nếu hiểu biết về vốn từ Hán Việt ngày một sơ sài, âm nghĩa, điển cố thiếu chính xác thì di sản quý giá đó khó tránh khỏi tàn lụi trong lớp bụi của thời gian.
2.1. Do tầm quan trọng của vấn đề như vậy, Viện Nghiên cứu Hán Nôm ngay từ cuối những năm 80 đã nhận thấy sự cần thiết phải biên soạn một bộ Từ điển Hán Việt có quy mô tương đối lớn lớn, cố gắng tối đa để phản ánh cho được những tri thức và thành tựu mà giới ngữ văn Hán Nôm học Việt Nam đã từng bước đạt được cho đến nay. Kế hoạch biên soạn Từ điển Hán Việt của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã được lãnh đạo UBKHXH VN (nay là Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) chấp thuận, và từ tháng 7-1991 bắt đầu cấp kinh phí cho thực hiện.
2.2. Để thực hiện kế hoạch đó, Viện đã tổ chức một Ban Biên tập gồm 10 ủy viên biên tập có trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy lâu năm; và một Ban sưu tập cứ liệu gồm 18 nghiên cứu viên của Viện.
2.2.1. Do mục tiêu khoa học của đề tài, nhóm công trình xác định bộ Từ điển Hán Việt biên soạn lầnnày cần phải đạt được sự chính xác khoa học trong việc xác định hình, âm, nghĩa của mỗi từ/ chữ Hán Việt.
- Về âm: Ban biên soạn phải sử dụng các sách vận thư tự điển cổ của Trung Quốc như:Đường vận 唐 韻, Quảng vận 廣 韻, Tập vận 集 韻, Vận hội 韻 會, Chính vận 正 韻 v.v.. để xác định chính xác âm đọc. Nguyên tắc phiên âm: một mặt bảo đảm giữ âm truyền thống của những từ thông dụng, một mặt bảo đảm khôi phục âm đọc Hán Việt thời Đường Tống theo nguyên tắc phiên thiết. Những từ có đến 2-3-4 cách đọc (gắn với những nghĩa khác nhau) đều được ghi vào từ điển.
- Về nghĩa: (a) Các từ đơn: Ban biên soạn tham khảo nhiều từ điển của Trung Quốc nhưKhanh Hy, Từ nguyên, Từ hải v.v…, lựa chọn những nghĩa quan trọng mà về sắc thái ngữ nghĩa người Việt Nam có thể phân biệt được. Có từ Trung Quốc chia làm 5-6 ý nghĩa nhưng chỉ thích hợp với người Việt 3-4 nghĩa thì chỉ lấy những nghĩa đó. Ở mỗi nghĩa, người soạn lựa chọn những câu trích dẫn thích hợp nhất với ý nghĩa đã nêu. Ban biên soạn đặc biệt coi trọng chọn lựa những cứ liệu trong các sách kinh điển của Trung Quốc (Ngũ kinh, Tứ thư v.v…) và tác phẩm nổi tiếng khác của Lão Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử, Tuân Tử v.v… Đó là cơ sở quan trọng để giúp người dùng từ điển hiểu chính xác các từ ngữ đã được dùng trong các thư tịch cổ Trung Quốc. (b) Các từ ghép (2-3 âm tiết) cũng theo các xử lý như đối với từ đơn, nhưng chú ý lựa chọn những từ ghép quan trọng nhất, tạm thời chưa lấy những từ ghép quá ít khả năng sử dụng, - nghĩa là có khả năng cực hiếm khi xuất hiện trên văn bản. Các cứ liệu từ ghép Hán Việt Nam cũng được dựa vào như đã nói, - nếu những cứ liệu đó rõ ràng và nổi tiếng hơn thì người biên soạn sẽ sử dụng để thay thế hẳn cứ liệu của Trung Quốc. Từ điển chú ý chủ yếu đến các từ ghép cổ, khó hoặc tương đối khó hiểu, còn đối với những từ ghép Hán Việt đã trở nên thông dụng như Hành chính, Nhân dân, v.v… thì coi là đối tượng của từ điển tiếng Việt hiện đại, không đưa vào từ điển này.
2.2.2. Để bộ từ điển phản ánh được các cứ liệu Hán văn Việt Nam, ngay từ khi triển khai dự án. Ban cứ liệu đã thực hiện việc rút phiếu trích dẫn các từ Hán đã được các tác gia Việt Nam sử dụng. Mỗi trích dẫn đều chép đủ nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa, ở cuối phiếu ghi xuất xứ tên sách, tên bia, số quyển, tập, trang v.v… Việc này thực ra không có gì đáng gọi là mới lạ đối với các nhà làm từ điển, nhưng đối với việc rút cứ liệu trên các tác phẩm Hán văn Việt Nam thì đây là lần đầu tiên được Viện Hán Nôm thực hiện để đưa vào Từ điển Hán Việt một danh sách gồm 500 đơn vị thư tịch và 300 văn bia phần lớn là các tác phẩm nổi tiếng, đã được lựa chọn để lấy cứ liệu: từ Thiên uyển tập anh, Việt điện u linh, Khóa hư lục, Tam tổ thực lục, Việt sử lược v.v.. (đời Lý Trần); Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo, Đại Việt sử ký toàn thư, Thơ văn Lê Thánh Tông (đời Lê). Ô Châu cận lục, Truyền kỳ mạn lục (đời Mạc), Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục (đời Lê Trung hưng), Đại Việt sử ký tiền biên (đời Tây Sơn), Hoàng Việt nhất thống địa dư chí, Nghệ An ký, Đại Nam thực lục Tiền biên. Chính biên, Khâm dịch Việt sử thông giám cương mục (đời Nguyễn) v.v… Như vậy, bên cạnh các tác phẩm của Trung Quốc, Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn có tương đối nhiều cứ liệu Hán văn Việt Nam trích dẫn từ tác phẩm của Trần Thái Tôn, Tuệ Trung thượng sĩ, Hồ Nguyễn Trừng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Dương Văn An, Nguyễn Dữ, Lê Quý Đôn, Lê Quang Định, Bùi Dương Lịch và các sách của Sử quán triều Nguyễn v.v… Đây chính là phần đặc sắc nhất của bộ Từ điển Hán Việt được biên soạn lần này, do đó nó được đặt thêm tiều đề phụ: “Lần đầu tiên sử dụng cứ liệu Hán văn Việt Nam”.
2.2.3. Về các sắp xếp các mục từ: hiện nay trong giai đoạn sơ thảo, để tiện làm việc, chúng tôi tạm sắp xếp theo thứ tự các bộ thủ như trong các từ điển của Trung Quốc. Nhưng ở giai đoạn làm bản thảo hoàn chỉnh để xuất bản có thể Ban biên tập sẽ tính đến phương án xếp theo thứ tự ABC của tiếng Việt. Nhưng dù chính văn sắp xếp theo cách nào thì ở cuối sách cũng có bảng kê bổ trợ để người dùng có thể tra cứu theo yêu cầu của mình.
3.1. Sau hơn 5 năm làm việc, đến nay nhóm công trình đã soạn xong bản sơ thảo gồm:
* 12.500 mục từ (chữ) đơn.
* 165.00 mục từ ghép.
* 215.000 cứ liệu có xuất xứ trong các thư tịch, bi ký Hán văn Việt Nam; lựa chọn được 85.000 dẫn liệu đưa vào các mục từ.
* Số trang bản thảo: khoảng 6.000 trang in vi tính khổ giấy A4 với cỡ chữ 10.
3.2. Với bản sơ thảo vừa hoàn thành, chúng ta đã có trong tay một bản thảo TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT có quy mô lớn nhất từ trước đến nay và là lần đầu tiên đó là một từ điển có trích dẫn văn liệu Hán văn cổ của Trung Quốc và Việt Nam để chứng minh từ nghĩa. Căn cứ vào kết quả đã đạt được, ngày 16-9-1997 vừa qua Hội đồng nghiệm thu đề tài cấp bộ do GS Đinh Gia Khánh làm chủ tịch đã đánh giá cao công phu của tập thể biên soạn, khẳng định bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm chủ trì thực hiện là một bộ sách công cụ có quy mô và chất lượng đáp ứng yêu cầu khoa học của chuyên ngành, có ý nghĩa lớn và đáp ứng được yêu cầu tra cứu, học tập Hán văn của đông đảo người đọc, của chuyên gia các ngành, đặc biệt là các chuyên gia trẻ có yêu cầu và trách nhiệm khai thác nghiên cứu di sản Hán Nôm.
3.3.3. Biên soạn một công trình lớn như Từ điển Hán Việt thông thường là phải thực hiện qua nhiều giai đoạn, hoàn thiện dần từng bước, lại phải có sự tiếp tay của nhiều nhà khoa học, qua nhiều thế hệ, qua nhiều lần xuất bản. Bản sơ thảo tuy đã hoàn thành, nhưng để có thể xuất bản được trong vài năm tới, công trình này cần được chỉnh lý, biên soạn, biên tập hoàn chỉnh, nhiều công việc còn cần được thực hiện bổ sung – Như thu thập thêm thích đáng các từ ghép về nhân danh, địa danh; các điển cố, danh vật v.v… nói chung cần phải bổ sung thêm nhiều. Các cứ liệu Hán văn Việt Nam trích xuất trong thư tịch bi ký là bộ phận rất đáng quý và có ý nghĩa, được coi là một đặc sắc của từ điển này, vẫn cần được bổ sung, - nhất là các cứ liệu trong bia, chuông cổ thì nhìn chung còn ít. Chính vì vậy, Hội đồng nghiệm thu công trình đã đề nghị Lãnh đạo Trung tâm KHXH&NVQG cấp kinh phí bổ sung, chỉnh lý sơ thảo, để bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn sớm được xuất bản để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
4. Thế kỷ XXI đang tới gần, đất nước ta đang tiến đến những thời cơ mới, vận hội mới. Nhiệm vụ giữ gìn phát huy nền văn hiến lâu đời của dân tộc trông đợi ở những người có tâm huyết, hy vọng ở các chuyên gia trẻ sẽ đóng góp tài năng cho chuyên ngành khoa học nghiên cứu di sản Hán Nôm. Cho dù còn không ít vấn đề cần suy nghĩ để hoàn thiện công trình, nhưng vớiBản sơ thảo khá đồ sộ đã có trong tay, nếu được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức trong việc cung cấp điều kiện vật chất, kinh phí cần thiết, chúng ta có thể hy vọng bộ từ điển do Viện Hán Nôm biên soạn sẽ sớm được xuất bản xứng đáng với cái tên Hán Việt đại từ điển mà Ban biên soạn đã đề nghị được đặt tên cho nó.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.603-609)



TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT
Đồng Chủ biên: NGÔ ĐỨC THỌ





Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Nếu không thay đổi thì Việt Nam không có tương lai

TS Nguyễn Sĩ Dũng (phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội):
Nếu không thay đổi thì Việt Nam không có tương lai !

Đổi mới là mệnh lệnh của thời đại

(phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội)
 04/11/2013 09:10 (GMT + 7) TT - “Tại kỳ họp lần này, Quốc hội tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua việc sửa đổi Hiến pháp, đây là cơ hội lịch sử để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đ
VÕ VĂN THÀNH thực hiện


đáp ứng được yêu cầu của thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển”. TS Nguyễn Sĩ Dũng (phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) nói trong cuộc trò chuyện với uổi Trẻ. * “Nếu không đổi mới, chắc chắn VN sẽ khó khăn, tôi nghĩ Quốc hội cũng cảm nhận được điều này”. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh đã phát biểu như vậy tại Quốc hội. Cá nhân ông cảm nhận ra sao? "Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai" TS NGUYỄN SĨ DŨNG - Cá nhân tôi cảm nhận là Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã nói rất thẳng thắn và rất đúng đắn. Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai. Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã rất khác. Tôi có cảm giác là hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta. Sự khó khăn mà Bộ trưởng Vinh phát biểu tại Quốc hội có thể đến không chỉ từ việc phải cạnh tranh toàn diện với các quốc gia khác, mà còn từ những mong đợi và những đòi hỏi lớn hơn của những người dân đã hiểu biết và trưởng thành vượt bậc. * Vậy thì đổi mới tiếp theo nên bắt đầu từ đâu, theo ông? - Mọi chuyện đều nên bắt đầu từ chính cái đầu của chúng ta. Không có sự cầm tù nào thê thảm và tàn hại bằng sự cầm tù tư duy của con người. Đổi mới tư duy chính vì vậy phải là bước đầu tiên, cũng là bước tiếp theo cho mọi sự đổi mới mà chúng ta tiến hành. Đây rõ ràng không phải là điều gì quá mới mẻ. Điều này đã được Đảng ta nói tới hàng chục năm nay. Vấn đề là thiếu những kiến thức mới, những khái niệm mới..., thật khó lòng đổi mới được tư duy. Quả thật, làm sao có thể đổi mới tư duy bằng cách xào nấu lại các giáo điều xưa cũ?! Khi đã có tư duy mới, cái cần phải đổi mới trước tiên có lẽ là nền quản trị quốc gia. Thế giới đã chứng minh rằng không phải tài nguyên, vị trí địa lý hay thời tiết mà thể chế do con người xây dựng là nguyên nhân căn bản của sự thành công hay thất bại về kinh tế, cũng như về phát triển nói chung. Nhân đây, câu chuyện thành công của đội bóng U-19 gợi cho chúng ta điều gì? Phải chăng là nếu tổ chức được mô hình theo chuẩn quốc tế thì “thấp bé nhẹ cân” như các cầu thủ VN vẫn có hi vọng, và ngược lại? Tại kỳ họp lần này, Quốc hội tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua việc sửa đổi Hiến pháp, đây là cơ hội lịch sử để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đáp ứng được yêu cầu của thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển. * Ông hình dung nền quản trị quốc gia “đáp ứng được yêu cầu thời đại” như thế nào? - Tôi hình dung nền quản trị quốc gia hiện đại phải đáp ứng mấy yêu cầu sau: 1- Bảo đảm pháp quyền. 2- Bảo đảm trách nhiệm giải trình. 3- Bảo đảm sự minh bạch. 4- Bảo đảm sự tham gia và sự dự phần của mọi người dân. Tất nhiên, những điều nói trên hoàn toàn không phải là sáng kiến của cá nhân tôi. Đó là sự tổng kết của Liên Hiệp Quốc từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy, đòi hỏi đầu tiên đối với việc đổi mới nền quản trị quốc gia là phải xác lập cho bằng được pháp quyền (cách mà chúng ta hay gọi hơn là xây dựng nhà nước pháp quyền). Đây là một vấn đề mang tính kỹ trị. Ý chí chính trị phải kết hợp với kiến thức và sự hiểu biết mới giúp chúng ta xây dựng được pháp quyền. * Ông có đề xuất mô hình cụ thể nào không? - Khoảng một vài tuần trước khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời, bác Kiệt có gọi tôi lên trò chuyện, và tôi đã trình bày một số suy nghĩ của mình. Lúc bấy giờ tôi có nói rằng cần phải hết sức tránh việc hình thành hai nhà nước trong một đất nước. Chúng ta có thể nghiên cứu nhất thể hóa sâu rộng hơn, tương tự như Singapore chẳng hạn, để Đảng lãnh đạo thật sự “hóa thân” vào Nhà nước. Làm được điều này, chúng ta không chỉ tránh được rủi ro của những xung đột không đáng có giữa Đảng và Nhà nước, mà còn xác lập được chế độ trách nhiệm giải trình hữu hiệu, bảo đảm được quy trình ban hành quyết định minh bạch, rõ ràng và đỡ tốn kém thời gian, công sức hơn. Tôi cho rằng hiện nay đây là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất để đổi mới nền quản trị quốc gia của chúng ta. Thật ra, nhất thể hóa cũng là chủ trương đã được Đảng ta đề ra, chứ không phải là điều gì mới mẻ cả. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất lớn. Nhiều khía cạnh của vấn đề lại không thể chỉ giải quyết bằng mỗi một việc là sửa đổi Hiến pháp. Tất nhiên, có những vấn đề cơ bản khác nếu không được thiết kế trong Hiến pháp thì rất khó mở đường cho việc đổi mới tiếp theo nền quản trị quốc gia. * Văn kiện Đại hội XI có nói đến việc “tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận”. Vấn đề nêu trên chạm đến những lý luận rất lớn và sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, ông nghĩ tính khả thi đề xuất của mình đến đâu? - Người Anh có câu ngạn ngữ: “Bạn không bao giờ biết bạn có thể làm được điều gì, trước khi bạn thử làm điều đó”. Tôi nghĩ rằng người Anh không phải là không có lý. VÕ VĂN THÀNH thực hiện Bộ trưởng BÙI QUANG VINH - Ảnh: V.DŨNG “Năm 2016-2020 nếu VN không đổi mới chắc chắn VN sẽ khó khăn, tôi nghĩ Quốc hội cũng cảm nhận được điều này... Tôi tin tưởng đất nước VN sẽ phát triển với những con người thông minh và có học hành, chắc chắn VN sẽ không thua kém các nước như Hàn Quốc và Nhật. Tất nhiên ở nhiều góc độ nhìn khác nhau thì chúng ta thấy vấn đề khác nhau. Nhưng có thể nói trên bình diện thống kê, phân tích chi tiết thì chúng tôi thấy ta đang có bước phục hồi mặc dù phục hồi còn ít và chưa thật sự bền vững. Đó là những tín hiệu tốt, chúng tôi nghĩ rằng lúc này niềm tin là điều quan trọng và chúng ta cần phải xây dựng niềm tin để chúng ta vươn tới”. (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh phát biểu trong phiên thảo luận của Quốc hội về kinh tế - xã hội sáng 1-11) Quốc hội thảo luận về Hiến pháp và Luật đất đai Trong tuần làm việc thứ ba của kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội dành hai ngày để thảo luận tại hội trường về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (ngày 5-11), về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật đất đai sửa đổi (6-11). Hai nội dung này được truyền hình và phát thanh trực tiếp. Chương trình nghị sự của Quốc hội trong tuần còn gồm các nội dung quan trọng khác như thảo luận về dự thảo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi); công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm; công tác phòng chống tham nhũng năm 2013; việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012; việc sửa đổi, bổ sung nghị quyết số 38/2004/QH11 ngày 3-12-2004 của Quốc hội về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh. Trong tuần, Quốc hội cũng sẽ nghe một số tờ trình về dự án Luật xây dựng (sửa đổi); dự án Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi); dự án Luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế. MAI HƯƠNG ------------------------------------ Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/578150/doi-moi-la%CC%80-me%CC%A3nh-le%CC%A3nh-cu%CC%89a-tho%CC%80i-da%CC%A3i.html

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

VIỆN KHỔNG TỬ GÂY Ô NHIỄM THẾ GIỚI




RFI ( TIẾNG TQ) trên trang mạng HỒNG CÔNG “ Aboluowang”:

VIỆN KHỔNG TỬ GÂY Ô NHIỄM THẾ GIỚI

BT: Bài này phát tháng 8-2010, không cập nhật được tình hình hiện nay, nhưng lại khái quát vấn đề từ 2004 khi Trung Quốc mới có chủ trương thành lập Viện Khổng Tử. Việc chuyển đăng trên trang mạng Hồng Kông cho thấy người TQ ở Hồng Kông tuy cũng tôn sùng Khổng Tử nhưng phê phán ý đồ của nhà cầm quyền Bắc Kinh (Ngvăn: Trung Cộng) mở Viện Khổng Tử khắp nơi là làm ô nhiễm thế giơí! 
Ngạn Xuyên.

Chỉ trong khoảng 5 năm (2004-2009) Chính phủ Trung Cộng đã mở 282 viện Khổng Tử ở 88 nước trên thế giới. CP Trung Cộng tuyên bố năm 2010 đặt chỉ tiêu mở 500 V. Từ khi viện Khổng Tử đầu tiên mở ở Đại học Maryland chính phủ TC đã mở 50 viện Khổng Tử ở nước Mỹ, trong một hai năm tới các  viện Khổng Tử ở Mỹ sẽ tăng lên con số 80.

Viện Khổng Tử do Văn phòng Giáo học Hán ngữ đối ngoại thuộc Bộ Giáo Dục của Chính phủ TC chủ quản.  Kinh phí khai trương một viện Khổng Tử bình quân khoảng 300 vạn (=3 triệu) USD. Tổng đầu tư kinh phí cho 500 viện Khổng Tử là 1 tỉ 500 triệu USD. Trong khi đó ngân sách giáo dục của Trung Quốc chỉ chiếm tỷ lệ GDP chưa bằng nước Uganda nghèo khổ ở Châu Phi.  Ngay tại Trung Quốc số trẻ con thất học rất lớn,  những vùng nghèo khổ trẻ con đến lớp khong có sách giáo khoa, không có bàn ghế, nhiều khi cũng không có cả lớp học. Vậy mà CP đưa bao nhiêu tiền như vậy ra nước ngoài để mở các viện Khổng Tử để đem về cái gì?
Căn cứ theo các văn kiện chính thức của TQ thì nhiệm vụ của các học viện Khổng Tử không chỉ là giảng dạy Hán ngữ, nó còn đảm trách cả các việc tư vấn về văn hóa, kinh tê, xã hội của Trung Quốc và triển khai các nghiên cứu về Trung Quốc đương đại.
Có một số nước đã bắt đầu có những phản ứng đối với việc chính phủ TC mở hàng loạt viện Khổng Tử ở nước ngoài. Nhiều người biết sự việc phụ huynh học sinh học khu加州洛杉磯哈希恩德海茨 (Hacienda Heights, California) đã phản đối nhà trường nhận tài trợ mỗi năm 30.000 đôla để mở lớp và vận hành viện Khỏng Tử trong trường. Trần Khải, nguyên đội viên đội bóng rổ GQ TQ là một nhân sĩ Hoa kiều có danh tiếng trong tiểu khu đã tham gia hành động phản đối ấy. Ông ta đã nói cho người Mỹ biết nhiều sự thực mà người Mỹ chưa biết. Trần Khải nói: “Mọi người chưa hiểu lịch sử của CNCS nên chưa biết: Sau khi giảng dạy Nho học, người ta sẽ quên đi tất cả tội ác mà CNCS đã gây ra trong lịch sử Trung Quốc. TC sẽ nói: Các ông các bà hãy chấp nhận chúng tôi, bởi vì các ông các bà đã chấp nhận học thuyết Nho gia của Trung Quóc cổ đại thì chúng tôi là những người tiếp tục thực hành học thuyết ấy, do đó các vị không thể coi chúng tôi là tà ác!”
Ông Trần Khải chỉ ra rằng: “Giáo trình của viện Khổng Tử thấm đẫm ý thức hệ của ĐCS. Trần Khải nhiều lần nêu rõ:  trong giáo trình xuất hiện rất nhiều từ “giải phóng” là một ví dụ.  Ông Trần nói: “Nhiều người chưa hiểu đúng chất độc hại bên trong của viện Khổng Tử. Họ nói “Giải phóng” - thế nào là “Giải phóng”? Giải phóng tức là một giai cấp đánh bại một giai cấp khác. Đó là quan điểm của Carl Marx!
CP TC bỏ ra số tiền lớn thànhlập các viện Khổng Tử. Một phần só tiền ấy dùng cho việc dạy học. Phần còn lại là để mua (thu mua) những kẻ ủng hộ họ trong các viện Khổng Tử! Ông Trần Khải vạch rõ: Trong học khu Hacienda Heights có một vị ủy viên giáo dục được viện Khỏng tử mời đi du lịch Trung Quóc. Tổng phí chuyến đi rất lớn: hơn một vạn  USD. Tiền ấy ở đâu ra? Ai chi trả?”
Học khu Hacienda Heights ngày càng thêm nhiều phụ huynh học sinh tham gia hành động phản đối học viện Khỏng Tử. Người phụ nữ da trắng Maxia nói: “ Cái trò ấy thật rác rưởi! Học khu chúng ta nếu ngu xuẩn nghe theo tức là đẩy con em chúng ta đi theo CNCS! Vấn đề không phải ở chỗ là họ dạy Trung văn, mà là họ yêu cầu chúng ta theo chương  trình do ĐCSTQ biên soạn và sắp đặt!
Cùng ý kiến như trên, trong viện Khổng Tử có nhiều người Canada, cũng có người tiết lộ ý đồ hiểm ác của CP Trung Cộng. Một nhân viên của Cục tình báo Châu Á -Thái Bình Dương của Canada đã bình luận: “ Mở các học viện Khổng Tử thực ra không phải xuất phát từ ý niệm từ thiện mà là một bộ phận chiến lược của ĐCSTQ”
Phe XHCN tuy đã tan rã nhưng vẫn còn một nước Trung Quốc XHCN lớn mạnh hơn nhiều, xăng xái hơn nhiều so với các tập đoàn XHCN ở Đông Âu (trước đây). Khi học thuyết của CNCS không còn có thể ngu xuẩn mê hoặc nhân tâm như trước, Trung Cộng tìm sự chống đỡ từ chế độ chuyên chế hai ngàn năm của Trung Quốc. Thế giới Tây phương không kham nổi cái Nho giáo làm vỏ bọc cho CNCS tiếp tục làm ô nhiễm thế giới. UV thường vụ BCT ĐCSTQ phụ trách Tuyên truyền Lý Trường Xuân ngày 24-4-2010 trong một lần phát biểu đã nói:” Nhiều nơi trên thế giới thành lập Viện Khổng Tử là một bộ phận cấu thành rất quan trọng của tuyên truyền đối ngoại của ĐCSTQ. Mở các học vuện Khổng Tử ở nước ngoài cũng như việc đặt hãng CNN ở Trung Quốc, chi ngân sách khổng lồ để mua chuộc giới truyề thông nước ngoài cùng cấu thành chiến lược tòan cầu của ĐCSTQ nhằm đảo ngược các giá trị phổ quát về nhân quyền và dân chủ tự do trên thế giới.
Chiến trạnh lạnh kết thúc, thế giới phương Tây buông lơi cảnh giác đối với CNCS, vì thế mặc dù có người phản đối nhưng vẫn không thể ngăn trở được các viện Khỏng Tử mở ra ngày càng nhiều, điều đó cũng giống như Trung Quốc ngày càng thải nhiều khí CO2vào khí quyển. Các học viện Khổng Tử do Trung Quốc mở có xu thế làm ô nhiễm thế giới ngày càng nghiêm trong!

Nguồn:
阿波羅新聞網2010-08-01 訊】
Biên tập: Zhongkang
NGẠN XUYÊN dịch
 


 

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Trí thức,văn nghệ sĩ trong và sát sau thời Stalin



Trí thức,văn nghệ sĩ trong và sát sau thời Stalin

Nguyễn Học
(dịch từ bản tiếng Nga)

Hồi ký Khrusev
(tiếp theo & hết)


LBT:
       Tiếp sau bài “Cái chết của Stalin”, nay tôi post đoạn cuối cùng Hồi ký của Krutchev. Vừa hay đoạn này Khrusev nói ý kiến của ông liên quan đến nhiều vấn đề về trí thức – văn học nghệ thuật cả dưới thời Stalin và sau khi Stalin chết và tác giả Hồi ký đã nắm cương vị đứng đầu ĐCSLX –Trong bài có nói Stermak với cuốn Bác sĩ Zivago, về Evtusenko, về Erenbourg, về Faadev -Chủ tịch đáng xấu hổ của Hội Nhà văn Liên xô mà mỗi lời tâu của hắn hầu như đều bay đầu một nhà văn tài giỏi!  
        Độc giả VN nhất là ở Hà Nội sớm biết tác phẩm và cuộc đời bất hạnh của họ, nhưng những điều nghe biết chỉ loáng thoáng. Nay trực tiếp đọc những dòng hồi ức do N. Khrusev - con người rất trung thực viết ra, chúng ta biết rõ đâu là nguyên nhân của mọi điều tội ác. Cám ơn dịch giả Nguyễn Học đã bỏ công dịch cuốn sách đáng đọc này và chúng ta chỉ đọc và trích dẫn ở mức độ cho phép, không làm bất cứ điều gì vi phạm lời cảnh báo bản quyền đã đăng ở đầu sách.NĐT.


Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP


NƠI AN TÁNG ĐẠI TƯỚNG:
Gia đình cho biết địa điểm chính xác nơi an táng Đại tướng ở Vũng Chùa -Đảo Yến (h. Quảng Trạch) tỉnh Quảng Bình.



Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

KHAI QUỐC TRẠNG NGUYÊN LÊ VĂN THỊNH (Bài mới)

Lời dẫn: Tháng 6 năm 2012 tôi đã đăng bài  Tổ khai khoa Việt Nam -Trạng nguyên Lê Văn Thịnh


Do việc copy chưa chuẩn nên hiện nay bài vẫn có thể truy cập được theo link đã dẫn trên, nhưng các ảnh bị mất hết! Vì Yah o 360 nay không hoạt động nữa, những ảnh tư liệu ấy tuy còn lưu nhưng không thể thay vào bài cũ được. Vì vậy tôi đã phải thể hiện một bài mới, nội dung như bài cũ nhưng có thêm nhiều ảnh tư liệu di vật và văn bản tác phẩm rất quý của Trạng nguyên Lê Văn Thịnh rút từ trong công trình Từ điển các nhà khoa bảng Việt Nam do Ngô Đức Thọ Chủ biên và Biên soạn chính (2012, chưa xb) lần đầu tiên được công bố.Cám ơn NCS Nguyễn Đức Toàn cùng đi và cộng tác với tôi trong các chuyến đi nghiên cứu di tích Trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Bài này tôi cũng gửi để đăng cả trên blog yeuhannom của NCS Nguyễn Đức Toàn.

+





Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Cái chết của Stalin




HỒI KÝ KHRUSEV

Nguyễn Học

 (dịch từ bản tiếng Nga)
Trích
Ghi chú: do convert từ bản PDF,trong bản để đọc này các số trang nhảy vào trong chính văn (xoá chưa hết) và có thể có một vài chữ nhảy sai vị trí hoặc sai dấu v,v...Người đọc xem đến thì hiểu đó là số trang chứ không phải số trong câu văn của nguyên bản. Nguồn:
Chân thành cám ơn người dịch.                                                                           Ngạn Xuyên, Hà Nội