Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo sư Ngô Đức Thọ và những cống hiến cho khoa học và văn hóa Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo sư Ngô Đức Thọ và những cống hiến cho khoa học và văn hóa Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Giáo sư Ngô Đức Thọ và những cống hiến cho khoa học và văn hóa Việt Nam

Giáo sư Ngô Đức Thọ và những cống hiến
cho khoa học và văn hóa Việt Nam 
TS. Trần Trọng Dương
Trong giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam vẫn truyền tụng về các nhà nghiên cứu đầu ngành của thế kỷ XX như Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giáp,… là thế hệ “một đi không trở lại”. Sự ca ngợi ấy cũng là một lối nói, một cách diễn ngôn. Bởi như ta biết, lớp kế cận ngay sau đó là những tên tuổi như Nguyễn Tài Cẩn, Hà Văn Tấn, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Huệ Chi,… Nếu như Nguyễn Tài Cẩn, Hà Văn Tấn, Nguyễn Huệ Chi là những đại thụ, là những người xây nền móng của các ngành ngôn ngữ học, khảo cổ học và văn học trung đại, thì Ngô Đức Thọ là người đi “be bờ đắp đập” cho nhiều chuyên ngành khoa học chuyên sâu khác nhau, từ văn tự học, văn bản học, thư tịch học, cho đến sử liệu học, bi ký học, phiên dịch học…  Ở mỗi một mảng chuyên ngành ấy, Giáo sư Ngô Đức Thọ luôn để lại những công trình quan trọng. Bài viết này, sẽ lần lượt điểm ra những cống hiến của giáo sư ở những bình diện trên. 

1.Về văn tự học
Ở Việt Nam hiện nay hầu như không mấy ai biết đến chuyên ngành văn tự học. Nhìn ở mảng nào cũng thấy những khoảng trống mênh mông. Hàng loạt các văn tự cổ từng tồn tại ở Việt Nam đã và đang chết đi, như chữ Chăm cổ, chữ Thái cổ, chữ Quốc ngữ cổ, chữ Nôm Tày, chữ Nôm Dao, chữ Nôm Việt,… và dĩ nhiên là chữ Hán cổ. Trong bối cảnh đó, công trình “Nghiên cứu chữ Huý trên các văn bản Hán Nôm” của Ngô Đức Thọ (1995) đã đánh dấu sự ra đời của chuyên ngành văn tự học chữ Hán ở Việt Nam. Như lời tựa giới thiệu của giáo sư Hà Văn Tấn: “công trình này đã đặt nền móng cho môn tỵ húy học ở Việt Nam”. Cuốn sách hình thành trên cơ sở luận án tiến sĩ của ông, và là thành quả lao động trong một hai chục năm, trên cơ sở khảo sát hàng vạn văn khắc và thư tịch cổ. Cuốn chuyên luận được in bằng hai thứ tiếng (Việt, Pháp) ngay lập tức đã trở thành giáo khoa thư và sách tham khảo gối đầu giường cho nhiều học giả ở các ngành văn tự học, văn bản học, thư tịch học, sử liệu học… Giới Hán học quốc tế biết đến văn tự học ở Việt Nam chủ yếu vẫn là qua cuốn sách trên. Tiếc rằng, sau gần 20 năm, đây vẫn là cuốn chuyên luận DUY NHẤT về chuyên ngành này. Không biết sau sẽ như thế nào, nhưng nếu như Ngô Đức Thọ là người mở đầu và cũng là người chấm hết cho chuyên ngành văn tự học chữ Hán ở Việt Nam, thì đó là một điều vô cùng đáng tiếc và day dứt!