Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT (Bản thử nghiệm, chưa xb)












Giới thiệu bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn (TBHNH 1997)

30/09/2007


GIỚI THIỆU BỘ TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT DO
VIỆN HÁN NÔM BIÊN SOẠN
NGÔ ĐỨC THỌ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1.1. Trong cuộc tiếp xúc văn hóa ngót 2000 năm giữa Việt Nam và Trung Quốc, những thành tựu ngôn ngữ văn tự Hán được người Việt Nam học tập, vận dụng, đã trở thành văn tự chính thức của các triều đại Việt Nam. Đến ngày nay, trong ngôn ngữ nói cũng như trong các văn kiện chính trị ngoại giao, văn hóa, khoa học, thông tin đại chúng v.v..., các từ Hán - Việt vẫn còn được sử dụng với một tỷ lệ khá cao (ước từ 60-80%). Có thể nói tiếng Hán - Việt là một bộ phận quan trọng nhất trong di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam.
1.2. Do áp lực của chủa nghĩa thực dân Pháp, loại chữ viết dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt trước chỉ được dùng trong một phạm vi rất hẹp (chủ yếu là tài liệu của các nhà truyền giáo phương Tây), đến đầu thế kỷ XX trở thành thông dụng, được chính thức coi là chữ Quốc ngữ của Việt Nam. Đây là một tình trạng khác hẳn với các nước trong khu vực dùng chữ Hán như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, - những nước này, trong tiến trình giao lưu văn hóa khoa học với thế giới vẫn bảo lưu hệ văn tự truyền thống của mình.
Sự thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ Latin hóa ở Việt Nam tuy cũng có những tiện lợi, nhưng đồng thời nó cũng gây nên một sự hụt hẫng rất quan trọng, khiến cho người Việt thuộc thế hệ chữ Quốc ngữ hầu như bị tách rời với bề dày di sản văn hóa thành văn chủ yếu được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Để hiểu biết lịch sử, văn hóa, văn học, tư tưởng, học thuật của dân tộc, suốt mấy chục năm qua đã có vài thế hệ các học giả có tâm huyết tự nguyện làm công việc dịch lại các tác phẩm của tiền nhân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay cũng đang thực hiện nhiệm vụ đó với hy vọng đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu di sản văn hóa dân tộc, không những cho đại chúng mà cả các nhà nghiên cứu không có chuyên môn về Hán văn cổ Việt Nam.
1.3. Công việc lớn lao gìn giữ, nghiên cứu khai thác các di sản Hán Nôm đó, từ lâu, giới trí thức và những người am hiểu các vấn đề văn hóa của các nước nhà đều cho là phải có sự hiểu biết tinh thông, hoặc đủ mức tạm gọi là chuyên sâu về Hán ngữ và Hán văn cổ Việt Nam mới có thể thực hiện được. Ngược lại, nếu hiểu biết về vốn từ Hán Việt ngày một sơ sài, âm nghĩa, điển cố thiếu chính xác thì di sản quý giá đó khó tránh khỏi tàn lụi trong lớp bụi của thời gian.
2.1. Do tầm quan trọng của vấn đề như vậy, Viện Nghiên cứu Hán Nôm ngay từ cuối những năm 80 đã nhận thấy sự cần thiết phải biên soạn một bộ Từ điển Hán Việt có quy mô tương đối lớn lớn, cố gắng tối đa để phản ánh cho được những tri thức và thành tựu mà giới ngữ văn Hán Nôm học Việt Nam đã từng bước đạt được cho đến nay. Kế hoạch biên soạn Từ điển Hán Việt của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã được lãnh đạo UBKHXH VN (nay là Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) chấp thuận, và từ tháng 7-1991 bắt đầu cấp kinh phí cho thực hiện.
2.2. Để thực hiện kế hoạch đó, Viện đã tổ chức một Ban Biên tập gồm 10 ủy viên biên tập có trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy lâu năm; và một Ban sưu tập cứ liệu gồm 18 nghiên cứu viên của Viện.
2.2.1. Do mục tiêu khoa học của đề tài, nhóm công trình xác định bộ Từ điển Hán Việt biên soạn lầnnày cần phải đạt được sự chính xác khoa học trong việc xác định hình, âm, nghĩa của mỗi từ/ chữ Hán Việt.
- Về âm: Ban biên soạn phải sử dụng các sách vận thư tự điển cổ của Trung Quốc như:Đường vận 唐 韻, Quảng vận 廣 韻, Tập vận 集 韻, Vận hội 韻 會, Chính vận 正 韻 v.v.. để xác định chính xác âm đọc. Nguyên tắc phiên âm: một mặt bảo đảm giữ âm truyền thống của những từ thông dụng, một mặt bảo đảm khôi phục âm đọc Hán Việt thời Đường Tống theo nguyên tắc phiên thiết. Những từ có đến 2-3-4 cách đọc (gắn với những nghĩa khác nhau) đều được ghi vào từ điển.
- Về nghĩa: (a) Các từ đơn: Ban biên soạn tham khảo nhiều từ điển của Trung Quốc nhưKhanh Hy, Từ nguyên, Từ hải v.v…, lựa chọn những nghĩa quan trọng mà về sắc thái ngữ nghĩa người Việt Nam có thể phân biệt được. Có từ Trung Quốc chia làm 5-6 ý nghĩa nhưng chỉ thích hợp với người Việt 3-4 nghĩa thì chỉ lấy những nghĩa đó. Ở mỗi nghĩa, người soạn lựa chọn những câu trích dẫn thích hợp nhất với ý nghĩa đã nêu. Ban biên soạn đặc biệt coi trọng chọn lựa những cứ liệu trong các sách kinh điển của Trung Quốc (Ngũ kinh, Tứ thư v.v…) và tác phẩm nổi tiếng khác của Lão Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử, Tuân Tử v.v… Đó là cơ sở quan trọng để giúp người dùng từ điển hiểu chính xác các từ ngữ đã được dùng trong các thư tịch cổ Trung Quốc. (b) Các từ ghép (2-3 âm tiết) cũng theo các xử lý như đối với từ đơn, nhưng chú ý lựa chọn những từ ghép quan trọng nhất, tạm thời chưa lấy những từ ghép quá ít khả năng sử dụng, - nghĩa là có khả năng cực hiếm khi xuất hiện trên văn bản. Các cứ liệu từ ghép Hán Việt Nam cũng được dựa vào như đã nói, - nếu những cứ liệu đó rõ ràng và nổi tiếng hơn thì người biên soạn sẽ sử dụng để thay thế hẳn cứ liệu của Trung Quốc. Từ điển chú ý chủ yếu đến các từ ghép cổ, khó hoặc tương đối khó hiểu, còn đối với những từ ghép Hán Việt đã trở nên thông dụng như Hành chính, Nhân dân, v.v… thì coi là đối tượng của từ điển tiếng Việt hiện đại, không đưa vào từ điển này.
2.2.2. Để bộ từ điển phản ánh được các cứ liệu Hán văn Việt Nam, ngay từ khi triển khai dự án. Ban cứ liệu đã thực hiện việc rút phiếu trích dẫn các từ Hán đã được các tác gia Việt Nam sử dụng. Mỗi trích dẫn đều chép đủ nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa, ở cuối phiếu ghi xuất xứ tên sách, tên bia, số quyển, tập, trang v.v… Việc này thực ra không có gì đáng gọi là mới lạ đối với các nhà làm từ điển, nhưng đối với việc rút cứ liệu trên các tác phẩm Hán văn Việt Nam thì đây là lần đầu tiên được Viện Hán Nôm thực hiện để đưa vào Từ điển Hán Việt một danh sách gồm 500 đơn vị thư tịch và 300 văn bia phần lớn là các tác phẩm nổi tiếng, đã được lựa chọn để lấy cứ liệu: từ Thiên uyển tập anh, Việt điện u linh, Khóa hư lục, Tam tổ thực lục, Việt sử lược v.v.. (đời Lý Trần); Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo, Đại Việt sử ký toàn thư, Thơ văn Lê Thánh Tông (đời Lê). Ô Châu cận lục, Truyền kỳ mạn lục (đời Mạc), Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục (đời Lê Trung hưng), Đại Việt sử ký tiền biên (đời Tây Sơn), Hoàng Việt nhất thống địa dư chí, Nghệ An ký, Đại Nam thực lục Tiền biên. Chính biên, Khâm dịch Việt sử thông giám cương mục (đời Nguyễn) v.v… Như vậy, bên cạnh các tác phẩm của Trung Quốc, Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn có tương đối nhiều cứ liệu Hán văn Việt Nam trích dẫn từ tác phẩm của Trần Thái Tôn, Tuệ Trung thượng sĩ, Hồ Nguyễn Trừng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Dương Văn An, Nguyễn Dữ, Lê Quý Đôn, Lê Quang Định, Bùi Dương Lịch và các sách của Sử quán triều Nguyễn v.v… Đây chính là phần đặc sắc nhất của bộ Từ điển Hán Việt được biên soạn lần này, do đó nó được đặt thêm tiều đề phụ: “Lần đầu tiên sử dụng cứ liệu Hán văn Việt Nam”.
2.2.3. Về các sắp xếp các mục từ: hiện nay trong giai đoạn sơ thảo, để tiện làm việc, chúng tôi tạm sắp xếp theo thứ tự các bộ thủ như trong các từ điển của Trung Quốc. Nhưng ở giai đoạn làm bản thảo hoàn chỉnh để xuất bản có thể Ban biên tập sẽ tính đến phương án xếp theo thứ tự ABC của tiếng Việt. Nhưng dù chính văn sắp xếp theo cách nào thì ở cuối sách cũng có bảng kê bổ trợ để người dùng có thể tra cứu theo yêu cầu của mình.
3.1. Sau hơn 5 năm làm việc, đến nay nhóm công trình đã soạn xong bản sơ thảo gồm:
* 12.500 mục từ (chữ) đơn.
* 165.00 mục từ ghép.
* 215.000 cứ liệu có xuất xứ trong các thư tịch, bi ký Hán văn Việt Nam; lựa chọn được 85.000 dẫn liệu đưa vào các mục từ.
* Số trang bản thảo: khoảng 6.000 trang in vi tính khổ giấy A4 với cỡ chữ 10.
3.2. Với bản sơ thảo vừa hoàn thành, chúng ta đã có trong tay một bản thảo TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT có quy mô lớn nhất từ trước đến nay và là lần đầu tiên đó là một từ điển có trích dẫn văn liệu Hán văn cổ của Trung Quốc và Việt Nam để chứng minh từ nghĩa. Căn cứ vào kết quả đã đạt được, ngày 16-9-1997 vừa qua Hội đồng nghiệm thu đề tài cấp bộ do GS Đinh Gia Khánh làm chủ tịch đã đánh giá cao công phu của tập thể biên soạn, khẳng định bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm chủ trì thực hiện là một bộ sách công cụ có quy mô và chất lượng đáp ứng yêu cầu khoa học của chuyên ngành, có ý nghĩa lớn và đáp ứng được yêu cầu tra cứu, học tập Hán văn của đông đảo người đọc, của chuyên gia các ngành, đặc biệt là các chuyên gia trẻ có yêu cầu và trách nhiệm khai thác nghiên cứu di sản Hán Nôm.
3.3.3. Biên soạn một công trình lớn như Từ điển Hán Việt thông thường là phải thực hiện qua nhiều giai đoạn, hoàn thiện dần từng bước, lại phải có sự tiếp tay của nhiều nhà khoa học, qua nhiều thế hệ, qua nhiều lần xuất bản. Bản sơ thảo tuy đã hoàn thành, nhưng để có thể xuất bản được trong vài năm tới, công trình này cần được chỉnh lý, biên soạn, biên tập hoàn chỉnh, nhiều công việc còn cần được thực hiện bổ sung – Như thu thập thêm thích đáng các từ ghép về nhân danh, địa danh; các điển cố, danh vật v.v… nói chung cần phải bổ sung thêm nhiều. Các cứ liệu Hán văn Việt Nam trích xuất trong thư tịch bi ký là bộ phận rất đáng quý và có ý nghĩa, được coi là một đặc sắc của từ điển này, vẫn cần được bổ sung, - nhất là các cứ liệu trong bia, chuông cổ thì nhìn chung còn ít. Chính vì vậy, Hội đồng nghiệm thu công trình đã đề nghị Lãnh đạo Trung tâm KHXH&NVQG cấp kinh phí bổ sung, chỉnh lý sơ thảo, để bộ Từ điển Hán Việt do Viện Hán Nôm biên soạn sớm được xuất bản để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
4. Thế kỷ XXI đang tới gần, đất nước ta đang tiến đến những thời cơ mới, vận hội mới. Nhiệm vụ giữ gìn phát huy nền văn hiến lâu đời của dân tộc trông đợi ở những người có tâm huyết, hy vọng ở các chuyên gia trẻ sẽ đóng góp tài năng cho chuyên ngành khoa học nghiên cứu di sản Hán Nôm. Cho dù còn không ít vấn đề cần suy nghĩ để hoàn thiện công trình, nhưng vớiBản sơ thảo khá đồ sộ đã có trong tay, nếu được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức trong việc cung cấp điều kiện vật chất, kinh phí cần thiết, chúng ta có thể hy vọng bộ từ điển do Viện Hán Nôm biên soạn sẽ sớm được xuất bản xứng đáng với cái tên Hán Việt đại từ điển mà Ban biên soạn đã đề nghị được đặt tên cho nó.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.603-609)



TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT
Đồng Chủ biên: NGÔ ĐỨC THỌ





Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

THĂNG LONG -ĐẤT HỌC NGÀN NĂM



Lời dẫn: Bài này tôi viết tháng 10-2010, nhân Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, sau đó đã post lên blog của tôi Yahoo360/ngoducthohannom, để được vài tháng thì phải chuyển sang blog hiện nay (http://ngoducthohn.blogspot.com/) nhưng chưa kịp copy bài này sang, thành ra thư mục của Google vẫn có bài này của Ngô Dức Thọ, nhưng muốn xem thì không có. Nay nhân lục lạo các ổ lưu vừa tìm thấy bản word còn lưu. Vậy xin post lên ngoducthohn để lưu, quý bạn nào chú ý chủ đề này. nhã ý muốn xem qua cũng thuận tiện. Ngô Đức Thọ

THĂNG LONG -ĐẤT HỌC NGÀN NĂM



Nhân Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội

THĂNG LONG - đất học ngàn năm



NGÔ ĐỨC THỌ


Thăng Long đất học là “chuyện ngàn năm” mà chúng ta dưòng như lại rất thiếu tài liệu. Sự thực cũng có một ít sử liệu về vấn đề này: Thời Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc gây tội ác ngút ngàn với dân ta, nhưng có một viên Thái thú là Sĩ Nhiếp muốn biến địa hạt cai trị của ông ta thành đất cát cứ có kinh tế và văn hoá phát triển không kém gì Bắc triều nên chú trọng truyền bá chữ Hán ở Giao Châu. Người nước ta cũng công bằng nhận định Sĩ Nhiếp có công mở mang sự học. Thủ phủ Luy Lâu thời Sĩ Nhiếp là một trung

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Thái bảo TRẦN PHONG


Bổ sung tiểu sử Các nhà khoa bảng VN

Ngô Đức Thọ
THÁI BẢO TRẦN PHONG ( ? - 1485)
 nạn nhân tính nghi kỵ của vua Lê Thánh Tông

Người huyện Tiên Lữ – Nay là huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên.
Đỗ khoa Hoành từ năm Tân Hợi niên hiệu Thuận Thiên 4 (1431) đời Lê Thái Tổ.
Làm quan đến chức Hộ bộ thượng thư kiêm Thái tử tập khách (hầu Kinh diên, tức dạy học cho Thái tử Bang Cơ sau là Lê Nhân Tông) gia chức Thái bảo, Ngự sử đài đô ngự sử. Lê Thánh Tông cho rằng ông là bề tôi thân tín của Lê Nghi Dân nên kết tội rồi bị xử trảm (1485).
Trần Phong thi đỗ khoa Hoành từ (1431) đầu đời Lê Thái Tổ, khi đó vua mới lên ngôi, muốn cầu hiền tài mở khoa Hoành từ. Nhưng thời đó chưa có quy chế đầy đủ, hồ sơ thất lạc hết, chính sử cũng bỏ sót không ghi điều gì về khoa thi này. Duy nhất chỉ có Lịch triều đăng khoa lục (LTĐK) có ghi khoa này với họ tên của 5 người thi đỗ:
1- Nguyễn Thiên Tích (Nội Duệ, Tiên Du)
2- Trình Thanh (nguyên quan Ứng Thiên, trú quán xã Trung Thanh Oai huyện Thanh Oai)
3-Đặng Huệ Liên (không ghi quê quán)
4-Chu Tam Tỉnh (huyện Thanh Đàm, sau là Thanh Trì)
5-Trần Phong (người huyện Tiên Lữ, không ghi thôn xã)
Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC)của Phan Huy Chú cũng chỉ ghi được tên khoa thi, nhưng không ghi người thi đỗ. Các tài liệu khác cũng đều thiếu các khoa thi đầu đời Lê Thái Tổ. Bia Văn miếu Xích Đằng kê tên các Tiến sĩ người Hưng Yên, ngay bia đầu tiên có tên Trần Phong, nhưng cũng chỉ ghi người huỵện Tiên Lữ, không có tên xã thôn. Vì vậy đối với Thái bảo Trần Phong, ngày nay chúng ta chỉ biết ông quê huyên Tiên Lữ (Hưng Yên), nhưng không biết xã thôn nào.
Sau khi thi đỗ,Trần Phong đựoc bổ chức văn hàn tại triều. Sang đời Thái Tông, ngày 15 tháng giêng  năm Thiệu Bình 1 (2-1434), Trần Phong và Chu Tam Tỉnh được phong chức Cục phó cục Ngự Tiền học sinh. (Toàn thư, BK11-4a )
Tháng 11 năm Thiệu Bình 4 (12-1437), lấy Trần Phong làm Hữu hình viện đại phu.(Toàn thư BK,11-47a ).
Thời Lê Thái Tông, tháng Giêng năm Thái Hòa 6 (2-1448), vua “lấy Trần Phong làm Thị kinh diên” (dạy học cho Thái tử Bang Cơ).
Năm Diên Ninh 6 (1459) Lê Nghi Dân giết vua Lê Nhân Tông, tiếm ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Hưng. 
Năm Thiên Hưng 1 (1459) Lê Nghi Dân sai Trần Phong, Lương Như Hộc, Trần Bá Linh sang nhà Minh cầu phong. (Toàn thư, BK12,98b). 
Khi sứ bộ Trần Phong trở về thì Lê Nghi Dân đã bị giết, hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông. 
Trần Phong đương nhiên phụng sự dưới triều vua mới.
Từ Quang Thuận 1 đến Quang Thuận 4 (1460-1463), vua Lê Thánh Tông tiếp tục dùng Trần Phong làm quan Kinh diên.
Tháng 12 Quang Thuận 4 (1463), vua Lê Thánh Tông lấy Trần Phong làm Hình bộ Thượng thư.”(Toàn thư, BK12 -13b)
Năm Quang Thuận 6 (1465), “Đổi Trần Phong ra làm Tuyên chính sứ Tây đạo”.(Toàn thư, BK12 -20a)
Quang Thuận 8 (1467), lại điều Trần Phong về kinh thăng Hộ bộ thượng thư. (Toàn thư,BK12 -30b)
Quang Thuận 8 (1467) Trần Phong làm Hình bộ thượng thư kiêm thái tử tân khách (Toàn thư, BK12 -30b)
Cùng năm Quang Thuận 8 (1467), sai Hộ bộ thượng thư kiêm Cung sư phủ Thái tử tân khách Trần Phong đi khám đất công ở hương Lam Sơn và thôn Dâm để cấp cho các công thần (Toàn thư, BK12 -29b)  
Quang Thuận 8 (1467) lấy Trần Phong làm Đông cung quan (Toàn thư, BK12 -37b)
Hồng Đức 5 (1474), Gia phong Trần Phong làm Thiếu bảo ngự sử đài đô ngự sử. (Toàn thư, BK13 -4a)
Hồng Đức 6 (1485), Tháng 12 giết Trần Phong.(Toàn thư, BK13- 49b)
Qua tóm tát lý lịch làm quan trên đây có thể thấy Trần Phong là văn thần làm việc tại triều dưới 5 triều vua thời Lê sơ (từ Thái Tổ đến Thánh Tông). Thời Lê Thái Tổ Trần Phong chưa được trọng dụng gì mấy, từ thời Thái Tông mới được lấy vào cung dạy học cho Thái tử (Nhập thị kinh diên). Nhưng chính việc làm thầy dạy học cho thái tử tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trần Phong vì dạy học cho thái tử Bang Cơ nên cũng thân gần với em vua là Nghi Dân, khi Nghi Dân tiếm ngôi, Trần Phong tiếp tục đựoc tin dùng làm Chánh sứ sứ bộ sang nhà Minh cầu phong cho Nghi Dân. Không may khi Trần Phong về nước thì vua mới đã lên ngôi. Lê Thánh Tông tiếp tục sử dụng Trần Phong, nhưng trong bụng không thích và có ý nghi ngờ lòng trung thành của Trần Phong. Việc Trần Phong khi đi sứ mua nhiều thứ quý lạ của Bắc quốc đem về nước để trục lợi vua cũng biết. Vua nói với Đô Ngự sử Nguyễn Thiện:
"Khoảng năm Thái Hòa, Diên Ninh, trên thì Tể tướng, dưới đến trăm quan, tranh nhau bòn lợi, hối lộ bừa bãi....Lệ Đức hầu (Nghi Dân) ưa thích của quý vật lạ, Nguyễn Như Đổ và Trần Phong đi sứ sang Bắc quốc mua sắm kể hàng ngàn, xoay xở đủ trăm cách. Còn như lòng trung của hai người đó thì ai biết? (Toàn thư, BK12 -17b)
Năm Quang Thuận 4 (1463), khi lấy Trần Phong làm Hình bộ Thượng thư, vua bảo với mấy người trong đó có Trần Phong: “ Ta nghe Tư Mã Quang có nói: "Người quân tử là cội gốc để tiến lên trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc để đi đến họa loạn". Ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng ngươi quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chắm không lơi, các ngươi chớ có quên đấy!".
Câu nói ấy có ý khuyên răn, nhưng thoáng chút ý gì có vẻ ghê sợ!
Đến năm Quang Thuận 6 (1485) Trần Phong hầu vua đến hơn 25 năm rồi, vua nói thật vua vẫn để bụng việc Trần Phong hồi trước dạy học cho Nghi Dân vẫn có ý xem thường mình, Vua bảo  với Thượng thư Nguyễn Như Đổ và mấy người nữa rằng:
“Trần Phong hồi trẻ là cựu thần của Lệ Đức hầu ( tức là Lê Nghi Dân). Đến khi hắn làm kinh diên cho Nhân Tông thì yêu quý Lệ Đức, rất khinh miệt ta. Nay Phong làm bầy tôi của ta lại thường mang lòng bất trung, bảo rằng ta đặt quan hiệu của nhà Minh mà làm trái thông chế của quốc triều, cái bụng trái đạo làm tôi của hắn đã rõ lắm rồi. Phong đã bội phản, ai buộc được tay ta mà ta không thể giết nó? Phong là tên phản quốc, ai là kẻ giơ càng bọ ngựa bênh nó hãy tự ra thú để ta được biết?”
(Quang Thuận) năm thứ 6 (1465), Đổi Trần Phong ra làm Tuyên chính sứ Tây đạo.
Hầu việc cho một ông vua kỹ tính lại hay nghi ngờ như Lê Thánh Tông mà ứng xử của Trần Phong nhiều khi quá phóng túng. Trần Phong có người em là Trần Cẩn phạm điều lỗi gì đó, vua đem việc nói với Phong, có ý hỏi ý Phong Cẩn là người thế nào. Nhưng Phong không hiểu ý, nhân dịp đó lại nói thêm các điều xấu của Cẩn. Lê Thánh Tông rất chê điều ấy của Phong, không chỉ trích trước mặt Phong, nhưng lại nói với nhiều triều quan:
"Trần Cẩn là em Trần Phong. Cẩn có tội. Trẫm hỏi Phong về hành vi ngày thường của Cẩn thì Phong nhân thế bới móc hết cái xấu của Cẩn ra, định làm hại Cẩn. Cái tình anh em cơ hồ sụp đổ rồi; nhân luân bại hoại không gì tệ bằng thế. Nếu Phong biết sửa chữa lầm lỗi một lòng trung hiếu, thì ta cũng kiễng chân mà chờ đợi kết quả sửa đổi sau này của hắn".(Quang Thuận 6 [1465], Toàn thư, BK12 -20a)
Ai nghe câu nói ấy của Lê Thánh Tông đều hiểu Trần Phong ở vào tình thế khá nguy hiểm, nhưng không ai bảo cho Phong biết. Cùng năm ấy, Trần Phong phạm lỗi, bị điều đi làm Tuyên chính sứ Tây đạo, năm sau (1466) lại được điều về kinh sai phái vài việc lặt vặt (đi Lam kinh xem xét các trường hợp một số nhà thế gia chiếm đoạt đất đai làm của riêng v.v...) Tuy thế Lê Thánh Tông theo định kiến vẫn rất ghét Trần Phong. Không xẩy ra việc gì, tự dưng (1468) vua cũng nói với bọn Nguyễn Như Đổ lời lẽ rất gay gắt:
"Ta xem Trần Phong ngoài mặt thì kêu căng, trong bụng thì xu nịnh, nói năng khinh suất. Đến như xiểm nịnh kẻ quyền quý thì lật đật như con lang già giẫm yếm xéo đuôi; liếm trôn trĩ của Đức Trung, hút mủ nhọt cho Nguyễn Yên, đó là kế sở trường để nên quan to của Phong đấy".
Vua còn biết chuyện Trần Phong buổi sáng theo các quan hặc tội Nguyễn Đức Trung, nhưng đến đêm lạị tới nhà Đức Trung để tạ lỗi. Đức Trung là cha của Trường Lạc Hoàng hậu, còn Yên là cậu của Hoàng hậu. Phong xin làm thông gia với Yên, lạy ở ngoài sân suốt ngày, Yên mới gả cho” (Toàn thư, BK12 -48b).
Cuối cùng năm Hồng Đức 16 (1485), nhân có bàn việc sắp xếp quan hiệu, vua có ý theo quy chế của quốc triều. Có người hặc tội, cho là Phong phỉ báng vua. Lê Thánh Tông hết sức tức giận, giao xuống cho đình nghị. Trần Phong bị tống ngục rồi chết.  (Toàn thư, BK13-49b  )
Trần Phong chết rồi, Lê Thánh Tông đăng triều vẫn không thôi quát thét:
"Trần Phong lúc trước làm bầy tôi cũ Lệ Đức hầu, nay hắn thờ trẫm, nhưng vẫn chứa đựng cái lòng không hết đạo làm tôi, hắn thường phỉ báng trẫm là sắp xếp quan hiệu theo chế độ nhà Minh, mà không theo thông chế của quốc triều, hắn thật là một bầy tôi bạn nghịch".
Lê Thánh Tông nói: “Hắn là một bầy tôi bạn nghịch”. Sử ghi kỹ như ta đã biết, nhưng chẳng thấy Trần Phong phản nghịch ở điểm nào ? Cái chết của  Trần Phong thật là một vụ án oan khốc của một vị đại thần đã dự triều chính suốt 5 đời vua đầu triều Lê, rốt cục phải chết thảm dưới triều đại của một vị vua thường được ca ngợi là đấng minh quân của một thời kỳ được coi là thịnh trị trong sử Việt.
Hậu duệ của ông (nếu còn) khi lập gia phả cũng nên sử dụng các tư liệu quốc sử đã dẫn trong bài này để chiêu tuyết cho ông.”
- Trần Phong 陳封tự Thái Khai 太開.
LTĐK (I, 2b); TThư (BK13,49b); TVTL (III, 125b)
Tác phẩm:
Hiện còn 1 bài thơ chép trong TVTL.
Mạn hứng  漫興 Q.10,126 a

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC GÂY HẤN BIỂN ĐÔNG XÂM LƯỢC HOÀNG SA -TRƯỜNG SA!!

PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC GÂY HẤN BIỂN ĐÔNG 
XÂM LƯỢC HOÀNG SA -TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM !!

反對中國啓釁侵略越南黃沙長沙

Hà Nội 2-6                                                         河内 6 月2 日


Chủ nhật đường thoáng, vắng, không bị chặn

8g30 chưa ai đến được. 8g45 một tốp tụ được lập tức khởi hành.

Đã thấy vài người quen: Trong ảnh: Nguyễn Chí Tuyển, AN chống biểu tình không phải là"trà trộn" mà là ngang nhiên trắng trợn vây đặc xung quanh!

Đây cũng thế!Kèm hẳn từng bước!
Tên này chỉ huy trấn áp băt người lên xe.

Xe car đã trờ tới! Tên chủi huy hô câu gì, thấy bọn dân phòng deo bănmg đỏ ào ào nhảy vô rất đông.

Một số khoảng 10 người đã bị đẩy lên xe rồi. Nguyễn Tường Thuỵ đang lớn tiếng phản đối bọn Việt gian bán nước!Phản đối bọn bán nước!

Bị đẩy len xe đang ngồi, đeo kính, dầu đội mũ là Thuý Hạnh ở phường Tây Hồ.


Mấy người bạn quen gặp nhau, không đông mấy!

Tất cả chỉ dioễn ra khoảng hơn 15 phút. Xe choẻư mấy người bị hốt chạy đi rồi (chắc lại đưa lên ngơi ở trại Lộc Hà). Những người còn lại cũng giải tán ra về. Vợ chồng Chí Tuyển sắp lên xe ra về.


Những người bị hốt lên Lộc Hà vừa xuóng xe liền căng khẩu hiệu Biển Đông không phải ao nhà của Trung Quốc (Việt _ Anh) vfa hô khẩu hiệu Đả đảo TRung Quốc xâm lước!

Thanh niên Nguyễn Văn Phương bị moọt tên coon đồ tấn công  đánh vào đầu. Trên ảnh tên côn đồ đang vít cổ Nguyễn Văn Phương.





Một số hình ảnh các cuộc biểu tình mùa hè 2012 
















Mùa hè 2013



 

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

XEM PHỦ THÀNH CHƯƠNG & TƯỢNG ĐÀI THÁNH GIÓNG

Lời dẫn:
Cuối năm 2011 cả nhà tôi đã có chuyến đi thăm xem Phủ Thành Chương, thấy công trình khá đẹp. Bất ngờ mới đây đọc tin thấy nói hình như chủ nhân làm công trình ấy trong rừng đặc dụng, không phép. Không biết lai lịch vấn đề ra sao? Có điều gì khúc mắc về chuyện giấy tờ phép tắc không?Nếu bắt phá đi thì có lẽ hơi phí? Xử phạt và cho tồn tại để cho dân đi thăm xem có được không? (Nghe nói vua Thuỵ Điển sang Hà Nội từng đến nghỉ đêm tại đó, không biết có đúng không?)
Ở đâu không biết nhưng ở Việt Nam ta làm được một công trình kiến trúc nghệ thuật như vậy không phải chuyện dễ, tốn bao công sức chất xám và tiền bạc.
Trên mạng tôi thấy có tít bài "Sở sẽ đập nát Việt Phủ Thành Chương" Sự việc đáng thế nào thì làm thế, không biết ông quan nào mà tuyên bố sặc mùi  "đao búa" vậy? Nhưng cũng thấy có bài bạn đọc ủng hộ ý kiến nên xử phạt cho tồn tại. Mong cấp có thẩm quyền xem xét.
Ngô Đức Thọ
Bài này trước tôi đã đăng ở blog Yahoo 360 (hiện đã mất), nhưng tô còn bản lưu, cho đăng lại tại đây để bạn đọc nào chưa kịp lên xem có thể lướt qua cho biết.
Ngô Đức Thọ

XEM PHỦ THÀNH CHƯƠNG & TƯỢNG ĐÀI THÁNH GIÓNG
%name

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ

HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ
(Bản Hồng Đức nguyên niên)
BẢN DỊCH  / Bản mới post có sửa lỗi+ ảnh chụp mguyên bản chữ Hán  18b-20b)
                 Mục lục





Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

SỰ MỚI MẺ CỦA PHONG TRÀO GÓP Ý KIẾN DỰ THẢO HIẾN PHÁP

 NGÔ ĐỨC THỌ


Việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi HP 1992 hiện đang tiến hành là một chủ trương lớn của ĐCSVN. Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (UBDT) cuả QH do CTQH Nguyễn Sinh Hùng đứng đầu đã làm việc từ 2011. Một bản Dự thảo sửa đổi HP 1992 (DTSĐ)đã thông qua các cấp bên QH, chuyền sang BCT TƯĐ. Cuối năm 2012, BCT có cuộc họp do TBT Nguyễn Phú Trọng chủ trì bàn về việc Hiến pháp. Mặc dầu có những băn khoăn về việc “các thế lực thù địch” muốn lợi dụng dịp này để phá hoại v.v..., nhưng một NQ về nội dung và kế hoạch triển khai thực hiện việc sửa đổi HP 1992 đã được thông qua. Trên cơ sở đó, ông NSH chỉ thị cho Ban Biên tập thông báo việc công bố Dự thảo sửa đổi HP 1992. Phát biểu với báo chí của ô. Phan Trung Lý Trưởng Ban Biên tập (29-12- 2012) có 2 nội dung đáng chú ý: (1) Bản dự thảo sắp công bố "chỉ thể hiện một phương án đối với những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau", để  “đưa ra nhân dân chính kiến của UB dự thảo” (2) "nhân dân có thể cho ý kiến đối với điều 4 Hiến pháp như với tất cả các nội dung khác trong dự thảo, không có gì cấm kỵ cả".
Đúng ngày đầu năm, 2-1-2013, toàn văn bản DTSĐ chính thức được công bố rộng rãi trên báo chí và các phương tiện truyền thông.
            Tuy vậy vào dịp cuối năm xáp tết nên vấn đề HP cho đến quá nửa tháng 1 cũng còn trầm trầm, chưa mấy ai chú ý. Đến sáng 19-1, lặng lẽ nhưng bất ngờ, trang Bauxite VN đăng một bản Kiến nghị (ít lâu sau sẽ quen gọi là KN72) do 72 trí thức nổi tiếng gửi UBDT..Những ngày sau đó các trang Bauxite VN,  AnhBaSam v.v…luôn luôn cập nhật danh sách những người đồng ký tên

         Khoảng 2 tuần sau, một đoàn gồm 16 nhân sĩ trí thức, như các ông:
Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH &; CN, HàNội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội;v..v....đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn người đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho UBDT. 
 Ô. Lê Minh Thông Phó Ban Biên tập tiếp đoàn đại diện và đã tiếp nhận bản kiến nghị và các phụ lục kèm theo và hưa sẽ chuyển lên cấp trên ( 4-2-2013 ).

Đại diện nhóm KN 72 đến UBDTHP trao Kiến nghi (4-2-2013)
 Cách mấy hôm, nhóm KN72 nhận được một văn thư đề ngày 07 tháng 02 do ông Phan Trung Lý ký, báo cho biết UB không thực hiện  việc đăng tải  KN72 vì không đăng ở các trang web chỉ định trước.
       
        Tiếp theo KN 72, đúng ngày 1-3, Thwờng vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam trực tiếp gửi đến UBDT một văn thư quan trong mang tên  Nhận định và Góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992.(viết tắt Bức thư...)


Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam

Tuy Bức thư... không báo chí nào giới thiệu, nhưng ngay từ khi nó được đăng lên các trang mạng, người ta sửng sốt nhận thấy sự ra đời của nó có hai đặc điểm khiến cho nó không những có một ý nghĩa vô cùng quan trọng mà còn có một vị trí rất riêng biệt so với văn thư góp ý kiến của các tổ chức đoàn thể khác:
           -Trước nay - Miền Bắc sau 1954, cả nước sau 1975, Giáo hội Công giáo Việt Nam hầu như lánh xa các vấn đề chính trị với hy vọng giữ an lành cho sự tu hành của các tín đồ và sự phát triển của giáo hội.
         -Nhưng lần này khác. Đây là việc hỏi ý kiến nhân dân về bản HP sẽ chi phối toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của toàn thể xã hội. Giáo hội CGVN hiên nay với hơn 6 tiệu tín đồ không thể nào thờ ơ hoặc đứng ngoài công việc lớn lao đó của toàn dân tộc. Mấy lần trước như HP 1980, 1992 không thấy hỏi ý kiến toàn dân nên GH cũng bỏ qua không đề cập đến. Lần này, Dự thảo có một sửa đổi chi tiết, nhưng nó vẫn như bản cũ, có nhiều vấn đề rất lớn, rất quan trọng đối với các tín đồ và GH. 
             Bức thư có đoạn viết:
     ĐCSVN trong quá khứ từng có những chính sách đúng đắn, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo để thực hiện đại đoàn kết dân tộc. Không hiểu tại sao khi soạn các HP trước (1980, 1992) cũng như Dự thảo lần này lại không lưu ý những bài học đó?
     Rập khuôn điều 6 của HP Liên Xô 1936 mà không biết rằng ở LX cũ tuy không có điều nào thủ tiêu tự do tôn giáo nhưng xu hướng tả khuynh lấn lướt, dường như nói không với tôn giáo, cho nên họ mới đặt Đảng CS LX với chủ nghĩa Mác Lê nin là nền tảng của xã hôi; VN say sưa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh rất độc đáo đậm tính dân tộc, nhưng lại quên mất những điều đó khi chèn điều 4 vào HP, như vậy là xa lạ thậm chí trái ngược với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của CT Hồ Chí Minh?
      Điều 4 HP liên quan đến nhiều thành phần chiếm số đông trong cộng đồng dân tộc, mà với khối đồng bào ngót 6 triệu người theo TCG có những vấn đề nổi cộm quan trọng như vậy, thử hỏi làm sao những đại diện của họ lại không lên tiếng ?

      Nếu KN72  khởi đầu với 72 trí thức và nhiều người đồng ký tên của nhiều trí thức có danh tiếng trên nhiều lĩnh vực KHTN, KHXH-VHNT-GDĐT v.v...thì bức thư của HĐGMVN là tiêng nói của ngót 6 triệu tín đồ Công giáo Việt Nam!
       Bộ phận đầu chỉ với vài chục ngàn chữ ký, không nhiều về số lượng, lại từng bị vùi dập từ thời NVGP dạo nào, có thể ai đó không xem trọng. Nhưng với khối tín đồ Công giáo mà HĐGMVN là đại diện mà ai đó không chú ý đến thì đó là một sai lầm tả khuynh có hậu quả rất nghiêm trọng. Mà xét ra điều 4 liên quan đến toàn thể xã hội chứ không phải chỉ riêng với đồng bào Công giáo. Nó quan trọng đối với nhà cầm quyền như vậy cho nên từ trước đến nay người ta cố tạo cho điều 4 một vẻ gì huyền bí, cấm kỵ như một đối với một thế lực siêu nhiên. SĐHP lần này không rõ do có chủ trương hay tự phát bởi ông Trưởng ban Biên tập Phan Trung Lý mà ông đã nói là "không có gì cấm kỵ" ngay cả với Điều 4 HP. Cam kết như thế rất đúng.
        Thực chất, cho đến nay ĐCSVN nắm quyền lực hầu như tuyệt đối, chẳng có đảng chính trị hay lực lượng nào khác đứng ra tranh chấp. Vậy thì việc cố ghi cho đượcc điều 4 vào HP hầu như chỉ để thoả mãn những ý thú phù phiếm của một ít người lãnh đạo có thói quen công thần cao ngạo, tuy luôn nói về cái lý tưởng XHCN xa xôi mờ ảo nào đó nhưng lại không cam chịu bình đẳng với các tầng lớp nhân dân, coi họ là những tầng lớp bị trị, còn chính mình thì đã được điều 4 HP khẳng định là tầng lớp lãnh đạo, tức là những người cầm quyền cai trị. Tư duy hiếu danh ngạo mạn đó lỗi thời, không nói đến hội nhập quốc tế mà ngay cả với đồng bào con Lạc cháu Hồng, những người khư khư muốn giữ điều 4 làm hư vinh cũng khó hoà nhập với tư trào dân chủ tiến bộ đang dâng lên không thể đảo ngược được.
          Cuộc vận động nhân dân góp ý kiến dự thảo sưả đổi HP đến giai đoạn này đã có những diễn tiến và chuyển biến ngoạn mục. Một số người lãnh đạo có tư duy thực sự cầu thị có thể đã phần nào nhận ra vấn đề và có nhiều biểu hiện cho thấy họ đã tự tách ra khỏi tầm ảnh hưởng của các pháo đài cổ hủ lạc hậu để tiêp cận với tiếng nói chung, nguyện vọng chung của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Nhiều phương án đã hé lộ, nhưng tất cả đêu còn chưa rõ hình thù. Dư luận còn phải vểnh tai căng mắt ngóng chờ. Điều mọi người mong nhất có lẽ là những phương án hoàn chỉnh khả thi, chứ khong phải nêu lên như một lát cắt để trưng bày. 
      Chẳng hạn về vai trò của Quân đội, điều 7, CTN Trương Tấn Sang nêu ý kiến:

“Về vai trò của Đảng với quân đội. Tôi cho rằng Đảng ta lập ra quân là để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân chứ không phải là lập ra là bảo vệ, trung thành với Đảng, vì vậy quân đội phải trung thành, bảo vệ Tổ Quốc, nhân dân rồi mới đến Đảng, có như vậy mới đúng chứ. Nay vì theo tập quán, nhận thức vẫn chưa thực hiện được.”
        Xin góp tiếng nói khẳng định với CTN: "Điều đó là hoàn toàn đúng đắn".
       Và chúng ta có thể thấy gì khi người soạn người duyệt bản Dự thảo HP1992 đổi hướng vai trò của quân đội sang phục vụ Đảng như đã thể hiện trong điều 70 của DTSĐHP như sau:
 
         Điều 70 (sửa đổi, bổ sung Điều 45)
"Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế."
         Vấn đề như vậy, mong Chủ tịch phát biểu thêm - có thể không phải về tất cả, nhưng là về một số điều quan trong, như về thể chế chính trị, về điều 4, về sở hữu đất đai  v.v..?
        
       Phía Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì phiên họp của CP góp ý kiến về sửa đổi HP với đề xuất quan trọng:
        “QH là cơ quan thực hiện quyền lập pháp (quyết định thông qua luật), còn nhân dân mới là chủ thể của quyền lập hiến. Trong lập hiến, QH có vai trò quan trọng khi đề xuất sửa đổi, bổ sung HP, trong soạn thảo và cũng là cơ quan thông qua HP trước khi đưa ra nhân dân biểu quyết. Nhưng QH không phải là cơ quan lập hiến theo nghĩa quyết định cuối cùng về thông qua HP. Quyền ấy phải ở nơi dân.”
          Khẳng định với Thủ tướng: Điều này rất đúng đắn. So sánh ta thấy nội dung này trong Dự thảo đã áp đặt lộn ngược: quy vào Quốc Hội cả quyền lập hiến và lập pháp,- như thế là tước mất quyền lập hiến của nhân dân, không thể chấp nhận được!
(Nguyên văn nội dung này trong DTSĐHP:
 
Điều 74 (sửa đổi, bổ sung Điều 83)
....
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

        Nhưng CP nên cho biết rõ thêm: Công việc đã làm dang dở như vậy rồi, phải bắt đầu lại từ đầu, hay là vẫn với một bản dự thảo biên soạn vội vàng, chất lượng bất cập như vậy, rồi vá víu nham nhở để đem cho nhân dân “phúc quyết” ? Mộtg thứ "phúc quyết mà cách đây cả tùân đã thây thông báo là đã cóa trên 44 triệu người góp ý kiến đồng ý về nhiều vấn đề cơ bản (!!??)
       Hoặc như bên QH, ngay từ đầu ông Phan Trung Lý nói là "chỉ đưa ra một bản dự thảo duy nhất (để thể hiện quan điểm của UBDT)". Nay thì chính ông Lý báo cáo với TVQH là đã chuẩn bị đến mấy “phiên bản” cho DTSĐHP? Riêng về tên nước thì ông Phan Trung Lý nói có cả phiên bản trở lại với tên nước VIỆT NAM DÂN CỌNG HOÀ. Có thể coi câu ấy như lời quảng cáo "mặt hàng" của ông thôi, nhưng ông còn bí mật chưa cho biết rõ hơn: Đó là một nước VNDCCH như thế nào? Một VNDCCH không có Điều 4 HP (như năm 1946), hay là một VNDCCH với Điều 4 như HP 1992 hay như Dự thảo SĐHP 1992?
        Không biết có ai sang bên QH không xin cho nhắn vài câu: Than ôi, nêu vỏ VNDCCH mà ruột đỏ lòm búa liềm, ảnh Mác Lê và Điều 4 thì thà đừng làm gì cả còn hơn, cắn rơm cắn cỏ lạy các ông mớ bái, xin các ông cho ngưng ngay đừng làm làm gì cho rất tốn kém tiền thuế của dân trong thời buổi kinh tế đang hết sức khó khăn này.
         N.Đ.T